Viêm tiểu phế quản là gì?

Viêm tiểu phế quản là gì?

Viêm tiểu phế quản (VTPQ, bronchiolitis) là một bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới phổ biến ở trẻ nhũ nhi.
Mặc dù thuật ngữ “viêm tiểu phế quản” ám chỉ tình trạng viêm các tiểu phế quản, nhưng chẩn đoán bệnh là lâm sàng và vẫn còn nhiều tranh cãi về định nghĩa phù hợp nhất cho bệnh.
Những tiến bộ gần đây về các phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng liên quan đến việc xác định các loại virus khác nhau là tác nhân gây bệnh của viêm tiểu phế quản, mặc dù virus hợp bào hô hấp (respiratory syncytial virus, RSV) vẫn là thủ phạm chính [9].
Viêm phế quản cấp tính là một thuật ngữ chẩn đoán dùng để mô tả bệnh cảnh lâm sàng do nhiều nhiễm trùng đường hô hấp dưới do virus khác nhau gây ra ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ.
Các dấu hiệu hô hấp thấy trong viêm tiểu phế quản gồm thở nhanh, khò khè, ran ẩm và ran ngáy do viêm đường thở nhỏ. Mặc dù phổ biến, nhưng vẫn chưa có bộ tiêu chuẩn chẩn đoán cho viêm tiểu phế quản, với sự bất đồng đáng kể về giới hạn trên của tuổi để sử dụng chẩn đoán thích hợp. Một số bác sĩ lâm sàng giới hạn thuật ngữ cho trẻ em dưới 1 tuổi và một số nới rộng đến 2 tuổi hoặc hơn [16].
Chẩn đoán viêm tiểu phế quản dựa vào bệnh sử và các dấu hiệu lâm sàng.
Năm 1973, Court đã chỉ ra rằng không có sự đồng thuận và tính lặp lại đủ cho các định nghĩa được sử dụng để phân loại bệnh hô hấp cấp tính bao gồm VTPQ ở trẻ em ngay cả trong cùng một quốc gia.
Dựa trên các triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng, ông đã định nghĩa viêm tiểu phế quản cấp như sau: “Bệnh chủ yếu ảnh hưởng đến trẻ nhũ nhi, đặc biệt là trong 6 tháng đầu đời.
Thở nhanh, khó thở, khò khè, rút lõm ngực, ho, ran ngáy (rhonchi) và ran ẩm (rales) rất thường xuyên. Thường có căng phồng ngực có thể nhìn thấy và phế trường tăng sáng trên X quang và có ý nghĩa chẩn đoán cao.
Các đặc điểm hô hấp trên, đặc biệt là chảy nước mũi và họng đỏ là thường gặp. Sốt rất thường gặp nhưng ít sốt cao”.
Do rõ ràng trong định nghĩa này không có giới hạn trên cụ thể cho tuổi, nên đợt khò khè không nhất thiết là lần đầu ở trẻ nhũ nhi và các dấu hiệu X quang cũng được đưa vào định nghĩa.
Năm 1983, McConnochie đã tóm tắt các tiêu chí lâm sàng cho định nghĩa ca bệnh viêm tiểu phế quản.
Viêm tiểu phế quản được coi là đợt khò khè lần đầu khởi phát cấp tính ở trẻ dưới 24 tháng tuổi với các dấu hiệu bệnh hô hấp do virus trước đó như sổ mũi (coryza), viêm tai hoặc sốt. Có thể có các triệu chứng suy hô hấp, viêm phổi và dấu hiệu dị ứng. Theo định nghĩa này, khò khè là một dấu hiệu nghe đầy đủ và ran ẩm (crackles) đã không được đề cập trong phân loại này như là một dấu hiệu cần thiết khi nghe phổi [9].
Năm 2006, Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics, AAP) ban hành hướng dẫn thực hành lâm sàng đối với viêm tiểu phế quản, được cập nhật vào năm 2014, theo đó viêm tiểu phế quản là “một nhóm các dấu hiệu và triệu chứng ở trẻ dưới 2 tuổi bao gồm tiền triệu đường hô hấp trên sau đó là tăng gắng sức hô hấp và thở khò khè”.

Viêm tiểu phế quản

Định nghĩa này phù hợp với McConnochie đề cập ở trên liên quan đến giới hạn trên của tuổi và sự hiện diện của khò khè như một dấu hiệu thực thể trong chẩn đoán VTPQ. Theo AAP, rales là một trong những dấu hiệu có thể của VTPQ khi nghe phổi.
Tuy nhiên, ở Châu Âu và Úc, cho đến gần đây, người ta cho rằng dấu hiệu chẩn đoán là nghe ran ẩm nhỏ hạt (fine crackles) và khò khè không phải là điều kiện tiên quyết để chẩn đoán.
Các hướng dẫn gần đây nhất của Vương quốc Anh cho rằng sự hiện diện của nghe ran ẩm nhỏ hạt thì hít vào và/hoặc ran rít âm sắc cao thì thở ra giúp chẩn đoán VTPQ đối với trẻ dưới 2 tuổi [9].
Trong hội thảo về điều trị VTPQ ở trẻ nhũ nhi tại Pháp năm 2000, định nghĩa tạm thời được chấp nhận gồm các biểu hiện sau: Bệnh lần đầu, xảy ra trong mùa dịch RSV; ở trẻ nhũ nhi trên 1 tháng và dưới 2 tuổi; với diễn tiến 48-72 giờ sau viêm mũi họng có sốt nhẹ hoặc không sốt; ho, khó thở kiểu tắc nghẽn kèm thở nhanh, co kéo, lồng ngực căng phồng (lâm sàng hoặc X quang), khò khè và/hoặc ran rít và/hoặc ran ẩm chủ yếu thì thở ra (trường hợp rất nặng, không nghe được âm phế bào) [7].
Viêm tiểu phế quản được định nghĩa rộng là một hội chứng lâm sàng xảy ra ở trẻ <2 tuổi và đặc trưng bởi các triệu chứng hô hấp trên (như chảy nước mũi) sau đó là nhiễm trùng đường hô hấp dưới với viêm, gây ran rít (wheezing) và/hoặc ran ẩm (crackles/rales).
VTPQ thường xảy ra với nhiễm trùng tiên phát hoặc tái nhiễm với tác nhân virus. Ở trẻ nhỏ, chẩn đoán lâm sàng VTPQ có thể trùng lặp với khò khè do virus tái diễn và hen khởi kích do virus cấp. Đối với nghiên cứu lâm sàng, VTPQ thường được định nghĩa là đợt khò khè đầu tiên ở trẻ dưới 12 đến 24 tháng tuổi có dấu hiệu thực thể của nhiễm trùng hô hấp dưới do virus và không có giải thích khác về khò khè [13].
Viêm tiểu phế quản do virus là một hội chứng lâm sàng thường gặp ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ. Mối quan tâm về tỉ lệ mắc bệnh và chi phí liên quan dẫn đến rất nhiều nghiên cứu đã được tóm tắt trong các tổng quan hệ thống và lồng ghép vào các hướng dẫn thực hành lâm sàng ở nhiều quốc gia.
Các khuyến nghị chứng cứ và hướng dẫn luôn hỗ trợ chẩn đoán lâm sàng với vai trò hạn chế đối với xét nghiệm chẩn đoán cho trẻ có hội chứng lâm sàng điển hình của nhiễm trùng đường hô hấp trên do virus tiến triển đến đường hô hấp dưới.
Xử trí phần lớn là hỗ trợ, tập trung vào việc duy trì oxy và dịch (hydration) của bệnh nhân.
Bằng chứng cho thấy không có lợi ích nào từ thuốc dãn phế quản hoặc sử dụng corticosteroid ở trẻ nhũ nhi bị viêm tiêu phế quản đợt đầu.
Bằng chứng cho các điều trị khác như nước muối ưu trương đang phát triển nhưng chưa được xác định rõ ràng.
Đối với trẻ nhũ nhi bệnh nặng, không đủ dữ liệu cho thấy vai trò của dùng cannula qua mũi lưu lượng cao và áp lực đường thở dương liên tục trong bệnh cảnh theo dõi để ngăn suy hô hấp [8].

Leave a Reply