https://www.autmhq.org/profile/bocoran-slot-gacor-hari-ini/profile https://www.autmhq.org/profile/jam-slot-gacor-gampang-menang/profile https://www.autmhq.org/profile/slot-deposit-pulsa/profile https://www.autmhq.org/profile/slot-gacor-terbaru-hari-ini/profile https://www.autmhq.org/profile/link-bocoran-slot-gacor-hari-ini/profile Slot Gacor https://www.portabrace.com/profile/slot-gacor-terbaru-gampang-menang/profile
sbobet https://dogrywka.pl/wp-includes/slot/ Jumpabola https://ogino.co.uk/wp-includes/slot-gacor/ Pragmatic



Vì sao phình mạch não hay gặp ở đa giác Willis

Vì sao phình mạch não hay gặp ở đa giác Willis


Phình động mạch não

Thành của động mạch bình thường được cấu tạo bởi lớp cơ trơn có sự chun giãn cao để đảm bảo không bị vỡ ra dưới một áp lực máu nhất định (hay huyết áp). Do một lý do nào đó, thành của mạch máu bị yếu đi và không chịu được áp lực của dòng máu và bị “phình” ra theo thời gian, tạo thành những túi phình trông giống như quả nho ở các đoạn mạch khác nhau.

Phình động mạch não hay gặp ở đa giác Willis, là nơi có nhiều “điểm nối” giữa các động mạch não. Các giả thuyết cho rằng một trong những lý do vì sao phình mạch não hay ở những điểm nối này là do chênh lệch áp lực máu giữa các đoạn động mạch cũng như độ “xoáy” của dòng máu vào các điểm nối nói trên. Theo ghi nhận, các động mạch xuất hiện túi phình nhiều nhất là động mạch thông trước (30%), động mạch thông sau (25%), động mạch não giữa (20%).
Tần suất mắc phình động mạch não là khá cao, ước tính khoảng 1 – 5% dân số. Tuy nhiên 50 – 80% trong số những phình mạch này lại có kích thước nhỏ và không bị vỡ ra trong suốt cuộc đời con người.


Xuất huyết dưới nhện

Xuất huyết dưới nhện là tình trạng chảy máu vào khoang dưới nhện, chiếm 3-10% nguyên nhân gây đột quỵ.

Xuất huyết dưới nhện là một dạng tai biến mạch máu não nặng trên lâm sàng. Nguyên nhân được chia làm hai nhóm: Chấn thương và không do chấn thương. Trong nhóm nguyên nhân không do chấn thương, xuất huyết dưới nhện do sự vỡ của phình động mạch não chiếm tới 80%. Tỷ lệ phát hiện phình mạch trên CĐHA và Autopsy là 5%, nguy cơ vỡ phình mạch đi kèm với hút thuốc lá, tăng huyết áp, dùng thuốc tránh thai, uống rượu, thuốc chống đông, yếu tố gia đình.

Bệnh nhân xuất huyết dưới nhện thường biểu hiện ban đầu bằng tình trạng đau đầu nặng xảy ra đột ngột, đạt tới cường độ tối đa trong vòng vài giây. Tình trạng này có thể kết hợp với ngất hay biến đổi ý thức dai dẳng. Tình trạng kích thích màng não xuất hiện sau vài giờ từ lúc khởi phát.

Chẩn đoán chảy máu dưới nhện nên được đặt ra sau khi chụp cắt lớp vi tính (CT) không cản quang, đây là kỹ thuật có độ nhạy >95% nếu được tiến hành trong vòng 24 giờ kể từ lúc khởi phát triệu chứng. Các bệnh nhân biểu hiện bệnh cảnh trễ hơn (đau đầu >24h) hay khi chụp CT não không phát hiện bất thường mặc dù vẫn nghi ngờ trên lâm sàng cần được tiến hành chọc dịch não tủy nhằm phát hiện hồng cầu và xanthematin. Điều có tính quyết định là phải đánh giá đầy đủ nhằm tìm kiếm chẩn đoán xuất huyết dưới nhện khi bệnh nhân có tình trạng đau đầu mới xuất hiện hay xảy ra đột ngột, nếu chẩn đoán chậm trễ sẽ đẩy các bệnh nhân này tới nguy cơ chảy máu tái phát do túi phình động mạch, tỉ lệ tử vong lúc này lên tới 50%. Các bệnh nhân được chẩn đoán xác định xuất huyết dưới nhện song kết quả chụp mạch não lúc đầu âm tính cần được tiến hành chụp nhắc lại trong vòng 1 đến 3 tuần nhằm loại trừ một túi phình mạch bị bỏ sót.

  Sự khác nhau giữa SpO2 và SaO2 ?

Tràn dịch não thất cấp do tắc nghẽn dòng chảy của dịch não tủy gặp ở một nửa số bệnh nhân bị xuất huyết dưới nhện và có thể cần được tiến hành dẫn lưu não thất cấp cứu khi tình trạng ý thức của bệnh nhân suy giảm nhiều. Một khi bệnh nhân đã có chẩn đoán xác định và được ổn định chức năng sống, chụp mạch não cần được tiến hành đánh giá túi phình mạch não hay các tổn thương mạch não khác.

Mức độ nặng của xuất huyết dưới nhện được phân bằng cách sử dụng bảng phân loại Hunt và Hess hay bằng thang điểm của Hội Liên đoàn Phẫu thuật thần kinh thế giới. Tỷ lệ sống sót của bệnh nhân tỷ lệ nghịch với độ nặng theo các thang điểm trong đó bệnh nhân thuộc độ V không cải thiện sau khi tiến hành các biện pháp ổn định chức năng sống ban đầu chắc chắn sẽ có kết cục tồi tệ.

Xử trí ban đầu cần tập trung vào việc ổn định cho bệnh nhân và dự phòng chảy máu tái phát, đây là một biến chứng xảy ra với tần suất là 20% trong số các bệnh nhân không được điều trị và thường gây tử vong cho người bệnh. Bệnh nhân với tình trạng ngủ gà hay hôn mê có thể cần được đặt ống nội khí quản. Các bệnh nhân này cần được đánh giá kĩ càng và nếu cần sẽ được điều trị tình trạng tràn dịch não thất. Cần hội chẩn với bác sỹ chuyên khoa ngoại thần kinh về lựa chọn điều trị thêm hay đặt Catheter não thất để dẫn lưu ra ngoài khi có tràn dịch não thất. Điều trị túi phình động mạch bị vỡ sớm làm giảm nguy cơ chảy máu tái phát. Mổ để kẹp cổ của túi phình bằng Clip và can thiệp nội mạch đặt Coil là các lựa chọn điều trị mang lại hiệu quả cao trong điều trị nguyên nhân xuất huyết dưới nhện.

  Hạ Natri máu trong xơ gan

Trước khi điều trị triệt để túi phồng động mạch cần tiến hành kiểm soát huyết áp một cách tích cực nhằm dự phòng chảy máu tái phát, nguyên tắc là cần duy trì áp lực động mạch trung bình <110mmHg. Các thuốc điều trị tăng huyết áp tác dụng ngắn hay dẫn xuất morphin được sử dụng phổ biến, tránh dùng thuốc nhóm nitrate.

Nguy cơ chảy máu tái phát có thể lên đến 20% trong vòng 24 đến 48 giờ đầu sau xuất huyết. Cùng với các rối loạn nhịp thất, đây là nguyên nhân thường gặp nhất gây tử vong sớm sau xuất huyết dưới nhện. Tuổi, tình trạng lâm sàng và giải phẫu túi phình mạch sẽ giúp lựa chọn biện pháp điều trị phù hợp.

Vỡ túi phình mạch thường kích hoạt sự phóng thích catecholamin và cytokin. Tình trạng tăng hoạt tính giao cảm có thể gây rối loạn chức năng tim phổi. Điện tâm đồ có thể biểu hiện ST chênh lên hay hạ thấp, QT kéo dài, sóng T dãn rộng, âm sâu. Tăng nồng độ Troponin gặp ở 20-30 trong số các bệnh nhân. Tất cả các bệnh nhân xuất huyết dưới nhện cần được theo dõi sát tim mạch mà thậm chí một số bệnh nhân có thể cần dùng thuốc làm tăng co bóp cơ tim để hỗ trợ chức năng tim. Phù phổi và giảm nồng độ Oxy máu gặp ở 10 đến 20% bệnh nhân và có thể là phù phổi do tim hay do căn nguyên thần kinh. Siêu âm sẽ giúp xác định mức độ suy tim.


Y học lâm sàng 

Leave a Reply

https://c.mi.com/thread-4099158-1-0.html https://aariwork.in/wp-includes/article/ https://www.escapefromwatchtower.com/ https://thebakersavenue.com/wp-includes/slot-online/ https://a3anjou.com/community/profile/bocoran-slot-gacor-hari-ini/ https://kitzap.co.uk/community/profile/bocoran-slot-gacor-hari-ini/ https://crazy-stir.com/community/profile/jam-slot-gacor/ https://gmisr.org/forum/profile/bocoran-slot-gacor-hari-ini/ https://isawamovie.com/community/profile/agen-slot-gacor-hari-ini/ https://a3anjou.com/community/profile/judi-slot-terbaru/