https://www.simoneetkurt.ch/wp-includes/slot-gacor-gampang-menang/ https://www.avisvascularcentre.com/wp-content/uploads/sbobet/ https://holycrosshigh.co.za/COVID19/slot-gacor/ https://www.avisvascularcentre.com/what-type-of-doctor-will-treat-my-varicose-veins/ https://bitcoinnewsinfo.com/wp-content/slot-gacor-2022/ https://www.maquillaje-para.net/



Vi khuẩn gây bệnh ho gà (Bordetella pertussis)

Vi khuẩn gây bệnh ho gà

Trực khuẩn ho gà (Bordetella pertussis) thuộc giống Bordetell, họ Alcaligenaceae. Hai nhà khoa học J. Bordet và O. Gengou là những người đầu tiên phân lập được vi khuẩn này từ một bệnh nhi mắc bệnh ho gà năm 1906.

Bệnh ho gà là một bệnh nặng và dễ lây ở trẻ em, nó có thể gây ra những biến chứng trầm trọng và ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ.

Đặc điểm sinh học

Hình thể

–   Vi khuẩn có dạng cầu trực khuẩn nhỏ, Gram âm, thường đậm ở 2 cực.

–   Khích thước 0,2-0,5 ´ 0,5-1 mm

– Vi khuẩn không có lông, nhưng chúng có các sợi ngưng kết hồng cầu (filamentous hemaglutinin = FHA) chứa protein, trông giống như các pili. FHA giúp cho vi khuẩn bám vào tế bào có lông chuyển của biểu mô đường hô hấp.

Vi khuẩn gây bệnh ho gà

Vi khuẩn ho gà bám trên bề mặt tế bào có lông chuyển ở đường hô hấp trên

Nuôi cấy

–  Vi khuẩn hiếu khí tuyệt đối.

–  Nhiệt độ tăng trưởng thích hợp 35-37°C. Tăng trưởng rất chậm, phải từ 5-7 ngày mới tạo thành khuẩn lạc trên môi trường đặc.

–  Môi trường nuôi cấy thích hợp là Bordet – Gengou (Potato – Blood- Glycerol Agar = B-G).

+  Trên môi trường B-G, sau 3-6 ngày, vi khuẩn mọc thành những khuẩn lạc nhỏ,   dạng S, lồi, mặt nhẵn bóng và sáng như giọt thủy ngân.

+ Có thể thấy tan máu nhẹ nếu là dòng vi khuẩn độc lực (pha I) trên môi trường BA.

Khi cấy chuyển nhiều lần, vi khuẩn trải qua 4 pha:

        + Pha I: khi mới vừa phân lập từ bệnh phẩm. Khuẩn lạc dạng S, nhỏ, bóng, có độc tố, có kháng nguyên ngưng kết hồng cầu.

        + Pha II, III: là dạng trung gian giữa pha I và pha IV.

        + Pha IV: là biến thể của vi khuẩn, ở biến thể này vi khuẩn không sinh độc tố và mất tính độc. Khuẩn lạc xù xì, mọc được trên các môi trường nuôi cấy thông thường, không có kháng nguyên ngưng kết hồng cầu.

Tính chất hóa sinh

–  Vi khuẩn chuyển hóa đường theo lối hô hấp, không bao giờ lên men.

–  Phân giải một số acid amin theo kiểu oxy hóa, sinh ra amoniac và CO2. Tính chất hóa sinh, nói chung “trơ”.

  Tóm lược Hướng dẫn quốc tế quản lý nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng

Đề kháng

Vi khuẩn đề kháng yếu với các yếu tố ngoại cảnh, khi ra khỏi cơ thể chết rất nhanh.

Độc lực

+  Độc tố ho gà (Pertusis toxin = PT): là một protein có phổ tác động sinh học rộng. Ngoại độc tố này có tính gây nhạy cảm với histamin, tăng hoạt hóa vùng đảo tụy, tăng lympho bào.

PT chịu trách nhiệm về nhiều triệu chứng lâm sàng cũng như về dấu hiệu tăng số lượng lympho trong quá trình bệnh lý.

+  Sản xuất adenylcyclase (AC): AC có khả năng xâm nhập vào các tế bào viêm ở đường hô hấp trên, gây ra tăng lượng adenosin monophosphat (AMP) vòng nội bào. AMP vòng ức chế đáp ứng miễn dịch tại chỗ do ức chế hiện tượng hóa hướng động bạch cầu đa nhân trung tính và ức chế hiện tượng thực bào.

+  Độc tố tế bào khí quản: gây tổn thương đặc hiệu tế bào có lông chuyển của biểu mô đường hô hấp.

 Kháng nguyên và miễn dịch

–  Ngoài các ngoại độc tố có tính kháng nguyên mạnh và quan trọng nhất, vi khuẩn còn có kháng nguyên thân chịu nhiệt gọi là sinh ngưng kết nguyên (agglutinogen) O, kháng nguyên này chung cho cả giống Bordetella.

–  Trẻ sơ sinh không mắc bệnh ho gà vì thừa hưởng kháng thể từ mẹ.

Nếu không được tiêm chủng, trẻ từ 1-5 tuổi dễ mắc bệnh nhất vì lúc này miễn dịch thụ động đã hết trong khi miễn dịch chủ động chưa được hoàn thiện.

–  Sau khi mắc bệnh, người bệnh có miễn dịch lâu dài.

Khả năng gây bệnh

–  Vi khuẩn ký sinh bắt buộc trên niêm mạc đường hô hấp của người. Chúng bám vào các tế bào có lông chuyển bằng sợi ngưng kết hồng cầu, không xâm nhập sâu vào niêm mạc cũng như không vào máu.

–  Tại chỗ bám chúng tiết ra PT và các yếu tố độc lực khác. Hệ thống nhung mao ở lớp thượng bì bị phá hủy, tế bào bị hoại tử. Sự giải phóng histamin từ các tổ chức bị tổn thương tác động lên niêm mạc gây kích thích cực độ đường hô hấp, dẫn đến những cơn ho không tự kìm chế được. Tổn thương não đôi khi gặp trong ho gà nặng do tình trạng thiếu oxy não trong cơn ho.

  Nhiễm nấm Aspergillus

Vi khuẩn ho gà bám lên lông chuyển của tế bào và gây bệnh

–  Độc tố còn gây tăng lympho bào ở máu ngoại vi.

–  Đường hô hấp bị tổn thương thường dẫn đến bội nhiễm các vi khuẩn khác, có thể gây viêm phổi, làm cho tình trạng bệnh trở nên trầm trọng hơn.

 *  Triệu chứng:

–  Thời kỳ ủ bệnh là 2 tuần

– Sau đó bệnh nhân vào giai đoạn sổ mũi với các triệu chứng ho nhẹ, sổ mũi nhiều. Đây là giai đoạn truyền nhiễm cao.

–  Sau giai đoạn sổ mũi, bệnh nhân bước vào giai đoạn ho giật với triệu chứng ho gà điển hình + ói + tím tái. Khảo sát công thức bạch cầu thấy bạch cầu tăng 16.000 – 30.000 trong đó đa số là tế bào lympho.

–  Sau giai đoạn này nếu không biến chứng bệnh nhân sẽ bình phục dần nhưng rất chậm.

–  Bệnh có thể có các biến chứng: nghẹt khí phế quản do phù nề, viêm não.

Chẩn đoán vi sinh vật

Chẩn đoán trực tiếp

–  Bệnh phẩm là quệt họng, hoặc cho bệnh nhân ho trực tiếp lên hộp thạch Bordet Rengou (B-R)

+  Nhuộm soi: bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang trực tiếp, hoặc  Gram.

+  Nuôi cấy: trên thạch B-R, đọc kết quả sau 3-7 ngày.

–   Xác định vi khuẩn dựa vào các tính chất về hình thể, tính chất nuôi cấy, ngưng kết với kháng huyết thanh mẫu.

Chẩn đoán gián tiếp

Tìm kháng thể đặc hiệu trong huyết thanh bệnh nhân.

Phòng bệnh và điều trị

Phòng bệnh

      –   Không đặc hiệu: cách ly bệnh nhân ngay từ khi có dấu hiệu nghi ngờ.

      –  Đặc hiệu: vacxin ho gà (vacxin chết) được làm từ vi khuẩn ho gà pha I. Đây là vacxin đa giá (DPT= bạch hầu-uốn ván-ho gà). Vacxin này có công hiệu từ  80-100%

Điều trị

Kháng sinh chọn lọc là erythromycin. Erythromycin cắt được tình trạng nhiễm trùng sau 4-7 ngày, điều trị kéo dài ít nhất 2 tuần để đề phòng tái phát


Vi khuẩn gây bệnh lậu

Leave a Reply