Tụ máu ngoài màng cứng

Tụ máu trong sọ là tổn thương quan trọng trong chấn thương sọ não kín. Người ta phân ra thành ba loại tụ máu chính: Máu tụ ngoài màng não, máu tụ dưới màng não và máu tụ trong não. Việc tìm khối máu tụ và giải quyết bằng phẫu thuật là yếu tố trọng tâm vì nếu khối máu tụ chèn ép vào não, các tế bào não sẽ thiếu máu và qua một thời gian dù có lấy được khối máu tụ, các tế bào đó sẽ không thể nào hồi phục được nữa.


Khái niệm

Tụ máu ngoài màng cứng

Tụ máu ngoài màng cứng là sự tích tụ máu do chấn thương giữa mặt trong xương sọ và mặt ngoài của màng cứng. Khoảng 70-80% máu tụ ngoài màng cứng ở vùng thái dương đỉnh, nơi mà xương sọ vỡ ngang qua đường đi động mạch màng não giữa hoặc các nhánh của nó. Ở trẻ em nhỏ tuổi, tụ máu và vỡ xương sọ ít có liên quan với nhau do độ đàn hồi (hay độ dẻo) của vòm sọ.

Máu tụ ngoài màng cứng hay gặp ở thanh niên, trong khi rất hiếm ở trẻ em hay người già do màng cứng dính chắc vào xương sọ nên khó bóc tách.

Máu chảy thường ở nơi rách động mạch màng não giữa, động mạch màng não sau, thỉnh thoảng cũng gặp ở xoang tĩnh mạch.

Sự lan rộng của khối máu tụ thể tích lớn có thể làm lệch đường giữa và gây thoát vị dưới liềm. Mô não bị chèn ép tác động lên dây thần kinh vận nhãn làm giãn đồng tử cùng phía tổn thương và liệt nửa người đối bên.

Chẩn đoán

Triệu chứng đặc biệt nhất là khoảng tỉnh. Trong thời gian này bệnh nhân thường đau đầu, nôn mửa, chóng mặt, lơ mơ dần.

Thăm khám có thể thấy tam chứng Cushing của tăng áp lực nội sọ (tăng huyết áp, tăng nhịp tim, rối loạn nhịp thở)


Xem: Tam chứng Cushing


Mức độ ý thức có thể suy giảm biểu hiện qua thang điểm Glassgow.

90% có giãn đồng tử ở bên có máu tụ. Có vết thương ở da đầu, chảy máu ở tai cùng bên cũng thường thấy (25%). Đau đầu cùng bên cũng thường gặp trong 1/3 hay 1/2 tổng số ca, bệnh nhân có thể kèm theo triệu chứng nôn mửa, giãy, cựa nhiều đặc biệt ở trẻ em.

CT-scan đầu không cản quang là phương pháp chẩn đoán có giá trị nhất. Trên CT có thể thấy vị trí, thể tích máu tụ, ảnh hưởng xung quanh của nó hay các tổn thương nội sọ khác. Tụ máu ngoài màng cứng tạo hình ảnh thấu kính hai mặt lồi, thường bị giới hạn theo các đường khớp. Vùng giảm đậm độ hơn tại ổ máu tụ cho thấy tình trạng chảy máu đang diễn tiến.

Tụ máu ngoài màng cứng

Hình ảnh thấu kính hai mặt lồi trong tụ máu ngoài màng cứng.


Xem: Ca lâm sàng tụ máu ngoài màng cứng


Điều trị

Ổn định tình trạng cấp tính đe dọa tính mạng và bắt đầu liệu pháp hỗ trợ. Kiểm tra đường dẫn khí, theo dõi huyết áp là các vấn đề quan trọng nhất.

Lập đường truyền tĩnh mạch, liệu pháp Oxy, theo dõi chặt chẽ.

Truyền dịch nhằm duy trì huyết áp. Đặt nội khí quản, giảm đau, chẹn thần kinh cơ hợp lý. Một vài ý kiến cho rằng đặt nội khí quản trước nhập viện làm tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân chấn thương mức trung bình, nặng so với các bệnh nhân đặt nội khí quản ở phòng cấp cứu. Thông khí qua bóng van mặt nạ có thể hữu ích với bệnh nhân tổn thương não hơn đặt nội khí quản trước nhập viện.

Chống tăng áp lực nội sọ.

Phẫu thuật xử trí khối máu tụ.


Máu tụ ngoài màng cứng ở trẻ em

Ở trẻ em, các rãnh động mạch màng não giữa nông và màng cứng dễ bị tách khỏi lớp trong của xương sọ. Màng cứng trẻ em có ba lớp và có độ dày lớn hơn ở người lớn, lớp trong có nhiều mạch máu, mỏng và dễ bị chảy máu. Máu tụ thường giới hạn ở một xương.

Tụ máu ngoài màng cứng chiếm khoảng 1-2% máu tụ ở trẻ bị chấn thương sọ não.

One Response

  1. nguyễn thanh Bình Tháng Một 19, 2019

Leave a Reply