Triệu chứng tiểu máu

Trang web cung cấp nguồn thông tin và kiến thức đáng tin cậy cho bạn đọc

Triệu chứng tiểu máu

Là sự xuất hiện của HỒNG CẦU trong nước tiểu

Định nghĩa

– Sách nội: là sự hiện diện của > 10 hồng cầu/mm3 ở xét nghiệm đếm tế bào nước tiểu.
– Sách sinh lý bệnh: Tiểu máu được xác định khi có nhiều hơn 5 hồng cầu / vi trường phóng đại và có ít nhất trên 2 mẫu nước tiểu phân tích.
– Sách ngoại cơ sở: là sự hiện diện của hồng cầu trong nước tiểu với số lượng > 3 hồng cầu/vi trường.

Người ta phân biệt đái máu niệu khoa và đái máu thận học:
Đái máu niệu khoa:
– Do tổn thuơng giải phẫu về mạch máu và đường tiết niệu ( từ tiểu đài thận đến niệu đạo).
Đái máu thận học:
– Do bệnh cầu thận
– Đái máu nguồn gốc cầu thận thường không có cục máu đông, do có hệ thống tan fibrin trong ống thận (urokinase).

Nguyên nhân

Hồng cầu niệu trước thận:
– Rất hiếm, có thể gặp trong bệnh cảnh rối loạn đông máu nặng nề, gây xuất huyết toàn thân và nhiều nội tạng, trong đó có thận

Hồng cầu tại thận:
– Khi tổn thương bất kì đoạn nào của nephron đều có thể làm chảy máu vào lòng ống thận
– Trong viêm cầu thận, viêm kẽ thận, viêm ống thận… hồng cầu niệu là một triệu chứng của một phức hợp gồm trụ niệu, protein niệu và bạch cầu niệu
– Trường hợp có viêm mủ ở thận thì hồng cầu niệu là một triệu chứng đi kèm với triệu chứng chính là có bạch cầu, bạch cầu thoái hóa và tế bào mủ ở nước tiểu

Hồng cầu niệu sau thận:
– Do vỡ mạch máu vào đường dẫn niệu, hay gặp khi có sỏi, viêm nhiễm(ở đài bể thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo ) hoặc do chấn thương. Nghiệm pháp “3 cốc” giúp chẩn đoán vị trí xuất huyết: đường dẫn niệu dưới (cốc đầu), bàng quang ( cốc thứ 3 ) hay từ niệu quản trở lên ( cả 3 cốc ). Ngày nay, nội soi bàng quang đã thay thế cho việc làm nghiệm pháp 3 cốc trong chẩn đoán vị trí chảy máu, có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn trong chẩn đoán và có thể can thiệp điều trị.

Khái niệm trụ niệu

– Là cấu trúc vi thể trong nước tiểu có hình trụ, do protein bị đông vón lại theo khuôn của lòng ống thận
– Nếu được tìm thấy trong nước tiểu thì chẩn đoán chắc chắn có tổn thương từ cầu thận

Điều kiện để xuất hiện trụ:
– Nồng độ protein trong nước tiểu đủ cao
– Lượng nước tiểu tương đối thấp, chảy chậm trong lòng ống thận để có thời gian hình thành trụ
– Có những thay đổi hóa – lý ở nước tiểu giúp cho protein dễ đông lại (ví dụ, giảm pH)
Hay gặp trụ niệu trong bệnh viêm cầu thận, thận hư nhiễm mỡ

Tên gọi:
– Nếu trụ đơn thuần chỉ cấu tạo từ protein, được gọi là trụ trong, rất hay gặp trong bệnh thận hư nhiễm mỡ, bệnh đa u tủy xương,…Trên cơ sở một trụ trong, nếu có bạch cầu bám vào thì có tên là trụ hat (hay gặp khi viêm cầu thận); ngoài ra có thể gặp trụ hồng cầu (khi có hồng cầu niệu đáng kể), trụ mỡ (trong bệnh thận hư nhiễm mỡ), trụ liên bào (do tế bào ống thận bám vào)…

CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH VÀ CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

Chẩn đoán xác định

  • Xét nghiệm tế bào đếm trong nước tiểu.
  • > 10 hồng cầu/1mm3 ở xét nghiệm đếm tế bào nước tiểu.
  • Xét nghiệm đếm tế bào trong nước tiểu phải được thực hiện sau khi lấy nước tiểu cho phép xác định thêm sự hiện diện của trụ hồng cầu: là bằng chứng của đái máu có nguồn gốc cầu thận.

Chẩn đoán phân biệt

– Các trường hợp đái máu giả, nước tiểu có thể màu đỏ do:
o Hemoglobin, myoglobin ( giập cơ), porphyrin ( porphyrin niệu).
o Dùng thuốc : metronidazole, rifampicine.
– Xét nghiệm đếm tế bào nước tiểu cho phép loại trừ các trường hợp đó – không có sự hiện diện của hồng cầu.
Ngoài ra còn cần phải chẩn đoán phân biệt tiểu máu với:
o Chảy máu trong chu kỳ kinh nguyệt ở phụ nữ.
o Chảy máu ở niệu đạo.

Chẩn đoán nguyên nhân

Đái máu đại thể

o Số lượng hồng cầu > 300.000/phút.
o Lâm sàng: Tiểu ra máu để lâu có cặn và máu cục, nước tiểu màu đỏ
Đầu bãi: thường do niệu đạo, tiền liệt tuyến.
Cuối bãi: do bàng quang:
đái máu niệu khoa.
Toàn bãi: có thể từ niệu khoa hay từ nhu mô thận.

Đái máu đại thể thường thấy trong các bệnh lý cầu thận:
Bệnh Berger.
Viêm cầu thận tiến triển nhanh có tăng sinh ngoài thành mạch.

Đái máu vi thể

– Cần chẩn đoán xác định bằng que thử và đếm tế bào nước tiểu:
– Hồng cầu trong nước tiểu >5000/phút.
– Bình thường có 1-3 tế bào máu trong 1 vi trường, tuy nhiên, người ta dùng phương pháp đếm hồng cầu trên 1 vi trường để khẳng định tiểu máu:
+ 3 Hồng cầu/ vi trường : dương tính (++)
+ 5 hồng cầu/ vi trường : dương tính ( +++).
– Còn phương pháp đếm cặn Addis ( tính số hồng cầu trong 1 phút như trên) không còn áp dụng nhiều.


Chẩn đoán đái máu

Nguyên nhân gây đái máu

Leave a Reply

Web truyện Viêm gan Bệnh gan mật .