Thai ngoài tử cung GEU – Chẩn đoán và điều trị

Thai ngoài tử cung GEU

Thai ngoài tử cung là trường hợp trứng thụ tinh làm tổ và phát triển ở một vị trí ngoài buồng tử cung.

Nguyên nhân

Tất cả những yếu tố ngăn cản hay làm chậm trễ sự di chuyển của trứng từ nơi thụ tinh vào buồng tử cung làm cho phôi nang vẫn ở trong vòi tử cung vào thời gian làm tổ sẽ gây nên thai ngoài tử cung.

Yếu tố nguy cơ:

– Viêm vùng chậu: Chlamydia là tác nhân quan trọng gây tổn thương niêm mạc vòi tử cung và gây thai ngoài tử cung. Có bằng chứng mô học chứng tỏ có viêm vòi tử cung trước đó chiếm 40% các trường hợp thai ngoài tử cung.

– Phẫu thuật trên vòi tử cung (tạo hình hoặc thắt).

– Tiền căn bị thai ngoài tử cung.

– Sử dụng dụng cụ tử cung tránh thai.

– Sử dụng thuốc tránh thai chỉ chứa Progestin.

– Phơi nhiễm với Diethylstilbestrol (DES): mẹ sử dụng DES trong thời gian mang thai, con khi trưởng thành có nguy cơ bị thai ngoài tử cung gấp 2 lần.

– Lạc nội mạc tử cung.

– Hỗ trợ sinh sản, sử dụng thuốc kích thích buồng trứng và kích thích phóng noãn.

– Hút thuốc lá vào thời điểm thụ thai.

Thai ngoài tử cung GEU

Diễn biến tự nhiên của thai ngoài tử cung:

Mặc dù thai không làm tổ trong buồng tử cung, nhưng do ảnh hưởng của nội tiết thai nghén, tử cung có thể to ra và mềm, niêm mạc tử cung dày lên trở thành ngoại sản mạc. Khi thai ngừng tiến triển, nội tiết giảm nhanh gây tình trạng ra máu ngả âm đạo, một số trường hợp rất dễ nhầm với sẩy thai, đặc biệt là khi siêu âm có hình ảnh túi thai giả trong buồng tử cung.

Vòi tử cung không đảm bảo cho quá trình làm tổ và phát triển của thai do niêm mạc và cơ mỏng, không biến đổi được nhiều. Thai chỉ phát triển được một thời gian ngắn rồi chết hoặc gây biến chứng. Gai rau phát triển không gặp ngoại sản mạc, không có hồ huyết nên xâm lấn vào lớp cơ và các mạch máu gây tình trạng chảy máu trong vòi tử cung. Sự chảy máu này xảy ra trước khi vỡ vòi tử cung, đó là hình thái rĩ máu qua loa.

Khi thai tiếp tục phát triển, vòi tử cung sẽ không đủ chỗ, thai sẽ bị đẩy đến cuối loa vòi và vào ổ bụng, đó là hình thái sẩy qua loa, hoặc biến chứng vỡ vòi tử cung, gây chảy máu ồ ạt vào ổ bụng tạo nên hình thái thai ngoài tử cung vỡ. Nếu tình trạng chảy máu diễn ra rỉ rả, kéo dài sẽ tạo thành khối huyết tụ thành nang.

Thai ở đoạn bóng và loa dễ gây nên tình trạng sẩy vào ổ bụng. Nếu thai tiếp tục sống và phát triển tạo ra thai ngoài tử cung ở tại buồng trứng hay trong ổ bụng.

Thai ở đoạn eo của vòi tử cung thường sớm gây biến chứng vỡ do đoạn này hẹp.

Thai ở đoạn kẽ có thể phát triển lớn hơn, biến chứng vỡ có thể xảy ra muộn và gây chảy máu ổ bụng rất nhiều do lớp cơ đoạn này dày và nhiều máu nuôi dưỡng.

Thai ở cổ tử cung dễ nhầm với sẩy thai.

Thai trong ổ bụng có thể bám vào các tạng, mạc nối. Thai có thể sống và phát triển lớn. Biến chứng của hình thái này thường rất nặng và nguy cơ tử vong có thể cao gấp 7-8 lần so với thai ở vòi tử cung.

Một số tình huống hiếm gặp: thai ở trong dây chằng rộng (vòi tử cung bị vỡ vào giữa 2 lá của dây chằng rộng); thai ngoài tử cung kết hợp với thai trong tử cung hoặc đa thai ngoài tử cung …

Chẩn đoán

Ba hình thái thường gặp:

  • Thai ngoài tử cung ở vòi tử cung chưa vỡ.
  • Thai ngoài tử cung ở vòi tử cung vỡ.
  • Thai ngoài tử cung thể huyết tụ

TNTC chưa vỡ

Cơ năng:

  • Trễ kinh hoặc rối loạn kinh nguyệt.
  • Rong huyết.
  • Đau bụng.

Thực thể:

  • Toàn trạng bình thường.
  • Ấn đau vùng hạ vị và 2 hố chậu.
  • CTC tím, mềm.
  • Thân tử cung hơi to hơn bình thường, cạnh tử cung có khối nề, ấn đau, lắc cổ tử cung gây đau.

Cận lâm sàng

  • Phản ứng chẩn đoán có thai.
  • Siêu âm. Phối hợp SA và định lượng β-hCG.
  • Nạo buồng TC, giải phẫu bệnh .
  • Nội soi chẩn đoán.

TNTC đã vỡ:

  • Toàn thân: dấu hiệu mất máu.
  • Khám bụng: gõ đục vùng thấp; phản ứng phúc mạc.
  • Chọc dò ổ bụng ra máu không đông.
  • XN: biểu hiện thiếu máu (tùy mức độ).
  • Siêu âm: dịch tự do ổ bụng.

TNTC thể huyết tụ:

  • Thường có rong huyết kéo dài, máu đen kèm theo tổng trạng thiếu máu.
  • Kích thích bàng quang gây tiểu rắt.
  • Kích thích đại tràng gây cảm giác mót đi cầu.
  • Khám vùng tiểu khung, đặc biệt là cùng đồ sau có khối dính, giới hạn không rõ và đau

Điều trị:

Mục tiêu điều trị:

  • Giải quyết khối thai ngoài tử cung.
  • Giảm tối đa tỷ lệ tử vong.
  • Ngừa tái diễn thai ngoài tử cung.
  • Duy trì khả năng sinh sản.

Điều trị ngoại khoa:

  • Mổ nội soi hoặc mổ bụng hở.
  • Bảo tồn vòi TC hoặc cắt bỏ toàn bộ cùng khối TNTC.

Điều trị nội khoa:

Điều kiện:

  • Thai ngoài tử cung chưa vỡ và khối thai nhỏ <3,5cm
  • β-hCG <10.000mIU/mL.
  • Các xét nghiệm công thức máu, chức năng gan, chức năng thận trong giới hạn bình thường.

Thuốc:


Thai ngoài tử cung GEU

Leave a Reply

Web truyện Viêm gan Bệnh gan mật .