Tam chứng chẩn đoán hẹp van hai lá?

Tam chứng chẩn đoán hẹp van hai lá

Rung tâm trương, T1 đanh, Clac mở van hai lá. Các tiếng bất thường này đều nghe được ở mỏm tim.


Rung tâm trương:

Do máu đi từ nhĩ trái xuống thất trái qua van hai lá bị hẹp làm cho máu xoáy qua chỗ hẹp và đi xuống gây ra tiếng rung. Tiếng rung rõ hơn khi máu va vào các dây chằng, cột cơ cũng bị cứng do viêm.

Khi có tiếng rung tâm trương, cần chẩn đoán phân biệt với u nhầy nhĩ trái.

Tiếng rung tâm trương thường nghe nhỏ hay thậm chí không nghe thấy trong:

+ Hẹp van hai lá quá khít

+ Tổ chức dây chằng cột cơ dày, cứng nhiều

+ Hẹp van hai lá có rung nhĩ với tần số thất nhanh

T1 đanh:

Vì các lá van bị chai cứng nên khi đóng van các mép van chạm vào nhau gây ra tiếng đanh hơn bình thường. Ngoài ra trong hẹp van hai lá máu xuống thất trái ít, nếu cơ tim còn tốt sẽ tống máu đi nhanh nên nghe gọn hơn.

T1 không còn đanh trong trường hợp:

+ Valve bị vôi hóa nặng, giảm di động

+ Hở hai lá phối hợp

+ Hở chủ phối hợp

Tiếng Clac mở van hai lá:

Nghe được ở mỏm tim, sau tiếng T2 0,07-0,11s do hai mép van hai lá dính với nhau trong hẹp van hai lá, khi mở van thì hai lá van sẽ tách nhau ra gây tiếng Clac, nghe giống tiếng T2 tách đôi ở mỏm tim.

Khi van bị xơ dày nhiều thì tiếng này cũng khó nghe.

Tam chứng chẩn đoán hẹp van hai lá

Hẹp van hai lá với hai mép van dính vào nhau và nhĩ trái lớn trên siêu âm

Ngoài ra khi đặt ống nghe ở đáy tim ta có thể nghe thấy tiếng T2 tách đôi: Khi áp lực động mạch phổi tăng làm cho thất phải sử dụng một công lớn hơn bình thường nhằm thắng áp lực này để tống máu đi, do đó thời gian tâm thu của thất phải lâu hơn so với thất trái, van động mạch chủ và động mạch phổi sau đó cũng đóng không đồng thời nên sẽ nghe thấy tiếng T2 tách đôi.


Hẹp van hai lá và chẩn đoán hẹp van hai lá

Phần lớn hẹp van hai lá là do thấp tim, số còn lại là do bẩm sinh (van hai lá hình dù), lupus ban đỏ, viêm khớp dạng thấp, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng,… Thấp tim thường gặp ở tuổi 5-15, thông thường cần ít nhất hai năm từ khi mắc đợt thấp tim cấp đầu tiên đến lúc hẹp van hai lá nặng.

Sự liên quan giữa sinh lý bệnh và triệu chứng có thể được giải thích như sau:

Gia tăng áp lực nhĩ trái và tĩnh mạch phổi, mao mạch phổi dẫn đến khó thở, phù phổi và ho ra máu.

Dãn nhĩ trái dẫn đến tái cấu trúc nhĩ, rung nhĩ, thuyên tắc mạch, nuốt nghẹn.

Tăng áp động mạch phổi gây suy thất phải (phù, gan to, cổ chướng,…), tím tái, huyết khối tĩnh mạch tại chỗ và thuyên tắc, liệt dây thanh âm do thần kinh quặt ngược bị chèn ép.

Cấu trúc van bất thường (bề mặt van xù xì) là yếu tố nguy cơ gây viêm nội tâm mạc nhiễm trùng.

Hẹp van hai lá có thể được điều trị nội khoa hay ngoại khoa.

Thuốc chống đông được sử dụng nếu có biến chứng rung nhĩ hay cục máu đông trong nhĩ trái hoặc hẹp khít van hai lá mà buồng nhĩ trái lớn. Lợi tiểu và nitrates được chỉ định khi có tăng áp lực động mạch phổi hay suy tim phải. Ở bệnh nhân hẹp van hai lá đơn thuần chưa có rung nhĩ, có thể chỉ cần làm chậm nhịp tim bằng thuốc chẹn beta hay diltiazem, verapamil. Khi bệnh nhân có rung nhĩ có thể phối hợp thêm digoxin.

Điều trị ngoại khoa bao gồm phẫu thuật nong van theo mổ tim kín hay nong van theo mổ tim hở. Khi van hai lá bị tổn thương nhiều cần thay van nhân tạo.


Tam chứng chẩn đoán hẹp van hai lá _Y học lâm sàng

2 Comments

  1. BuyantibioticsRex January 15, 2021
  2. Zanositelnitsa June 8, 2021

Leave a Reply