https://www.autmhq.org/profile/bocoran-slot-gacor-hari-ini/profile https://www.autmhq.org/profile/jam-slot-gacor-gampang-menang/profile https://www.autmhq.org/profile/slot-deposit-pulsa/profile https://www.autmhq.org/profile/slot-gacor-terbaru-hari-ini/profile https://www.autmhq.org/profile/link-bocoran-slot-gacor-hari-ini/profile Slot Gacor https://www.portabrace.com/profile/slot-gacor-terbaru-gampang-menang/profile
sbobet https://dogrywka.pl/wp-includes/slot/ Jumpabola https://ogino.co.uk/wp-includes/slot-gacor/ Pragmatic



Rối loạn ý thức và hôn mê

Rối loạn ý thức và hôn mê

Ý thức là một thuật ngữ chưa được hiểu rõ, được định nghĩa một cách mơ hồ. Ý thức “bình thường” đòi hỏi:

  • Hệ thống lưới hoạt hóa (Reticular activating system- RAS) đi từ dưới lên còn nguyên vẹn (nằm ở thân não và chịu trách nhiệm về sự thức tỉnh).
  • Chức năng bình thường của võ não, đồi thị và sự liên kết giữa chúng (chịu trách nhiệm về nhận thức).

Rối loạn ý thức xảy ra nếu có sự rối loạn một trong hai chức năng trên.

Rối loạn ý thức và nguyên nhân

Những khuyết tật nhỏ như suy giảm trí nhớ, mất định hướng và sự hoạt động chậm của não, có thể không rõ ràng và khó nhận biết, đặc biệt nếu đồng tồn tại các vấn đề ngôn ngữ, nhìn và nói. Cần xem xét khả năng nhiều yếu tố nguyên nhân góp phần gây nên sự rối loạn ý thức: Ví dụ, một bệnh nhân uống rượu rồi ngã trên đường, bị chấn thương đầu, nằm bất động không ai nhìn thấy hàng tiếng đồng hồ và bị hạ thân nhiệt.

Thang điểm hôn mê Glasgow (Glasgow Coma Scale – GCS) được triển khai nhằm đánh giá/tiên lượng chấn thương đầu và thường được sử dụng (mặc dù ít có giá trị) để ghi lại mức độ ý thức ở tình trạng không chấn thương. GCS <15/15 cho thấy có sự thay đổi ý thức. Hôn mê có nghĩa là bệnh nhân không đáp ứng mắt và GCS ≤8/15. Không sử dụng các thuật ngữ như ý thức một phần, bất tỉnh,….   Rối loạn ý thức và hôn mê Khi bệnh nhân không chắc có khả năng cung cấp một bệnh sử rõ ràng, rất quan trọng để khai thác bệnh sử từ những người chứng kiến, người thân hoặc đội ngũ cấp cứu. Đặc biệt, cần hỏi về:

  • Hoàn cảnh mà bệnh nhân được tìm thấy như: phơi nhiễm nhiệt độ thấp quá hoặc cao quá hay là nhiễm độc.
  • Tốc độ, tự nhiên và những sự kiện xảy ra chung quanh ví dụ như: Khởi phát đột ngột – Xuất huyết dưới nhện (SAH), co giật, chấn thương; khởi phát từ từ – Tổn thương nội sọ đang lan rộng, rối loạn chuyển hóa; những cơn co giật tái phát – dao động; những bệnh gần đây giống cúm – Viêm màng não, sepsis.
  • Chấn thương ví dụ như tai nạn giao thông trên đường, ngã và hành hung.
  • Bệnh sử có dùng thuốc (thuốc kê đơn hoặc thuốc không cần kê đơn), rượu và sử dụng các chất.
  • Tiền sử trước đây.
  Bài giảng U hạt vòng (GRANULOMA ANNULARE)

Các nguyên nhân quan trọng được kể theo danh sách bên dưới: Nguyên nhân chuyển hóa:

  • Tăng/ Hạ Glucose máu.
  • Tăng/ Hạ thân nhiệt.
  • Tăng/Hạ natri máu
  • Suy giáp.
  • Toan chuyển hóa.

Thuốc/chất độc:

  • Các chất gây hưng phấn ví dụ như gamma – hydroxybutyrate (GHB), ketamine, mephadrone, vv.
  • Rượu.
  • Opioids, benzodiazepines, thuốc chống trầm cảm 3 vòng, barbiturates,….
  • Carbon monoxide/các chất gây độc tế bào khác, ví dụ như cyanide.

Nguyên nhân CNS (Nguyên nhân từ hệ thần kinh trung ương):

  • Chấn thương: Xuất huyết nội sọ (Xuất huyết dưới màng cứng, ngoài màng cứng, dưới nhện, não thất), tổn thương sợi trục lan tỏa.
  • Nhiễm trùng: Viêm màng não, viêm não, áp xe não, sốt rét thể não.
  • Đột quỵ võ não/ thân não
  • Xuất huyết dưới nhện.
  • Động kinh.
  • Tổn thương choán chổ nội sọ: U tiên phát hoặc di căn
  • Bệnh não tăng huyết áp.
  • Căn nguyên tâm lý.

Suy cơ quan:

  • Shock.
  • Suy hô hấp (Hạ Oxy/tăng CO2).
  • Suy thận (Bệnh não tăng ure máu)
  • Suy gan (Bệnh não gan)

Đánh giá bệnh nhân

 

Suy hô hấp, shock hoặc Glucose <3.0 mmol/L? Đảm bảo đường thở được thông và cố định cột sống cổ nếu nghi ngờ chấn thương. Khi GCS giảm, cần kiểm soát đường thở, ví dụ như đặt nội khí quản, có thể là bắt buộc. Đánh giá sự Oxy hóa và thông khí bằng phân tích khí máu động mạch. Điều trị khẩn trương hạ Oxy máu và tăng CO2 máu. Đưa ra chẩn đoán/điều trị thử nghiệm với Naloxone nếu tăng PaCO2 hay có bằng chứng ức chế hô hấp. Tìm bằng chứng của sốc và điều trị. Kiểm tra đường máu bằng máy (‘BM’); Nếu BM< 3.0 mmol/L, gửi mẫu máu tới phòng xét nghiệm định lượng Glucose máu, nhưng ngay lập tức điều trị với Dextrose truyền tĩnh mạch hoặc Glucagon tiêm bắp/ tiêm tĩnh mạch mà không đợi kết quả. Bệnh nhân với suy dinh dưỡng, nghiện rượu mạn tính, cân nhắc truyền tĩnh mạch chậm Thiamine để dự phòng nguy cơ khởi phát bệnh não Wernicke (trên lý thuyết).  Nghi ngờ nhiễm trùng CNS? Nghi ngờ nhiễm trùng CNS ở bệnh nhân ↓GCS kèm theo dấu viêm màng não, mới xuất hiện ban dát hoặc ban xuất huyết, hoặc sốt. Có khả năng sốt rét nếu như mới du lịch vùng địa phương mắc bệnh, thực hiện kéo máu và tham khảo ngay ý kiến chuyên gia. Mặt khác, làm cấy máu, dịch ngoáy họng, điều trị kháng sinh/kháng vi rút tĩnh mạch theo kinh nghiệm và chụp CT não khẩn cấp. Nếu không có chống chỉ định trên lâm sàng và xét nghiệm hình ảnh thì thực hiện LP và phân tích CSF.  
Nhiệt độ trung tâm <34°C? Nhiệt độ trung tâm hạ khi đo ở trực tràng có kết quả <35°C hoặc lâm sàng nghi ngờ hạ thân nhiệt như cố định lâu, phơi nhiễm với điều kiện ẩm, lạnh. Nghi ngờ rối loạn nhận thức do hạ thân nhiệt nếu nhiệt độ trung tâm <34°C. Làm ấm và đánh giá lại trong khi tìm kiếm thêm nguyên nhân kèm theo. Kiểm tra TFTs và cân nhắc điều trị tĩnh mạch tri-iodothyronine (dùng trước corticosteroid tiêm tĩnh mạch) nếu có bất kỳ nghi ngờ hôn mê phù niêm (Suy giáp).  Có bất kỳ nghi ngờ ngộ độc Opioid? Đưa ra chẩn đoán/ điều trị thử với Naloxone nếu bệnh nhân sử dụng bất kỳ loại Opioid nào, biết hoặc nghi ngờ có sử dụng chất gây hưng phấn, đồng tử co nhỏ hoặc không có nguyên nhân rõ ràng nào khác gây rối loạn ý thức. Bất kỳ sự cải thiện nhanh chóng về mức độ nhận thức, tăng tần số thở hoặc giãn đồng tử cũng cho thấy rằng Opioid có góp phần gây ra tình trạng lâm sàng. Thời gian bán hủy của Naloxone ngắn hơn hầu hết các opioid hoặc các chất chuyển hóa opioid, vì vậy cần thiết thêm liều hoặc truyền.  
Ghi nhận cơn co giật? Một bệnh sử rõ ràng và chi tiết từ người chứng kiến là rất quan trọng. Giảm GCS là phổ biến sau cơn co giật, nhưng nhớ rằng cơn co giật có thể được làm dễ bởi nhiều nguyên nhân bao gồm hạ glucose máu; chấn thương đầu ± máu tụ nội sọ; hội chứng cai rượu, quá liều thuốc như thuốc chống trầm cảm ba vòng, nhiễm trùng, vv. Trong trạng thái động kinh, sự kèm theo hạ Oxy máu/Tăng CO2 máu làm nặng tình trạng chấn thương đầu và tỷ lệ tử vong ∼10%.  GCS ≤8, chấn thương đầu, đau đầu hoặc bằng chứng bệnh lý nội sọ? Khi bạn đã nhận ra và điều trị rối loạn sinh lý chính, nhiễm trùng đe dọa tính mạng và nhanh chóng loại trừ nguyên nhân gây ↓GCS, thật quan trọng để xác nhận nguyên nhân nội sọ gây rối loạn ý thức.  
  Bệnh mô liên kết hỗn hợp (Mixed connective tissue disease)

Nguyên nhân hôn mê


Mối liên quan giữa sốt cao và co giật

Leave a Reply

https://c.mi.com/thread-4099158-1-0.html https://aariwork.in/wp-includes/article/ https://www.escapefromwatchtower.com/ https://thebakersavenue.com/wp-includes/slot-online/ https://a3anjou.com/community/profile/bocoran-slot-gacor-hari-ini/ https://kitzap.co.uk/community/profile/bocoran-slot-gacor-hari-ini/ https://crazy-stir.com/community/profile/jam-slot-gacor/ https://gmisr.org/forum/profile/bocoran-slot-gacor-hari-ini/ https://isawamovie.com/community/profile/agen-slot-gacor-hari-ini/ https://a3anjou.com/community/profile/judi-slot-terbaru/