Phân biệt viêm phổi điển hình và không điển hình

Phân biệt viêm phổi điển hình và không điển hình

Trên lâm sàng thường gặp hai dạng viêm phổi là viêm phổi điển hình và không điển hình. Việc phân biệt dựa vào lâm sàng và cận lâm sàng sẽ giúp ích trong việc chẩn đoán và điều trị về sau.


Viêm phổi điển hình

Viêm phổi không điển hình

Ghi chú

Tác nhân Phổ biến là Streptococcus Pneumonia, Heamophilus Influenza VK không điển hình:

Mycoplasma

Chlamydia

Legionella

Vi khuẩn không điển hình không có vách tế bào, do đó kháng sinh nhóm beta-lactam không có tác dụng mà thay bằng nhóm Macrolides, Quinolone,…

Khởi phát Nhanh

Chậm

Giống vi khuẩn lao, các vi khuẩn không điển hình trong đó có Mycoplasma sinh sản chậm và cho thời gian ủ bệnh kéo dài.

Cơ năng

Thường khởi phát với sốt cao, rét run

Ho, khạc đàm mủ

Đau ngực kiểu màng phổi

Nhịp thở thường tăng

Tiến triển chậm với các triệu chứng không đặc hiệu, thường sốt không cao, nhức đầu, uể oải, đau cơ, đau họng, tiêu chảy, …

Thường ho khan

Ít đau ngực hay ho đàm

Tổn thương trong viêm phổi không điển hình là tổn thương ở mô kẽ, mang tính chất lan tỏa nên triệu chứng thực thể thường không rõ (cơ năng thì rầm rộ nhưng thực thể thì không có gì)

Đối với viêm phổi tiến triển chậm cần đặt ra chẩn đoán phân biệt với lao phổi, nhiều khi triệu chứng của chúng không phân biệt được trên lâm sàng

Thực thể

Khám phổi thấy có hội chứng đông đặc

Rale ẩm, rale nổ

Có thể bình thường

Phổi không rale

Cận lâm sàng

Bạch cầu thường tăng

Trên X-Quang thấy đám mờ đồng nhất của viêm phổi thùy, thâm nhiễm lan tỏa trong phế quản phế viêm

Bạch cầu tăng nhẹ hay bình thường

X-Quang thấy hình ảnh tổn thương mô kẽ, các đám mờ đậm độ không đồng nhất (patchy consodilation)

20% trường hợp nhiễm Mycoplasma có bạch cầu tăng, số khác thì bình thường. Việc nhuộm Gram sẽ không cho kết quả do thiếu hụt vách tế bào, nuôi cấy thường cho kết quả muộn do sự sinh sản chậm của chúng.

 


Chẩn đoán xác định viêm phổi

Bệnh nhân thường không có tiền sử bệnh phổi, khởi phát sau đợt nhiễm lạnh.

Bệnh khởi phát một cách đột ngột ở người trẻ với biểu hiện sốt cao kèm rét run, mạch nhanh, đau ngực khu trú một bên ngực, khó thở nhanh nông, ho khạc đàm quánh dính, có thể nhầy mủ vàng hay đỏ nâu (màu gỉ sắt).

Khám phổi có thể phát hiện hội chứng đông đặc ở thùy trên, giữa hay dưới.

Số lượng bạch cầu tăng >10.000/mm3, Neutrophil tăng trên 80%, tốc độ lắng máu tăng.

Soi đờm: BK âm tính, cấy đờm thấy song cầu khuẩn có vỏ bọc Gram (+).

X-Quang phổi thấy bóng mờ đồng nhất, không tạo hang.

Cần chẩn đoán phân biệt với xẹp phổi do ung thư phế quản, tràn dịch màng phổi khu trú, khối u phổi, Ap-xe phổi.

Các biến chứng của viêm phổi có thể gặp

Tổn thương lan rộng sang các thùy khác, có khi xâm chiếm cả một bên phổi hay lan sang bên đối diện.

Xẹp phổi do đờm đặc quánh làm tắc phế quản hay một thùy phổi.

Áp-xe phổi thường gặp do dùng kháng sinh không đủ liều lượng, bệnh nhân thường sốt cao dai dẳng, ho nhiều đàm mủ. X-Quang có một hay nhiều hình hàng có mức nước hơi bên trong.

Tràn dịch màng phổi: Viêm phổi màng phổi có thể gây tràn dịch màng phổi, tác nhân thường gặp là tụ cầu vàng.

Tràn mủ màng phổi: Bệnh nhân sốt dai dẳng, chọc dò màng phổi phát hiện mủ.

Biến chứng tim mạch: Nhịp tim nhanh, ngoại tâm thu, đôi khi có rung nhĩ. Ở bệnh nhân viêm phổi nặng do phế cầu có thể có viêm màng ngoài tim mủ. Suy tim xảy ra trong trường hợp sốc.

Biến chứng tiêu hóa: Vàng da do gan bị suy, biến chứng viêm phúc mạc.

Biến chứng thần kinh: Vật vã, mê sảng.


Phân biệt viêm phổi điển hình và không điển hình – Y học lâm sàng

 

No Responses

Leave a Reply