Nguyên lý sử dụng kháng sinh

Nguyên lý sử dụng kháng sinh

Giới thiệu

Tài liệu “Nguyên lý sử dụng kháng sinh” của dịch giả Vũ Tiến Khoa dịch từ cuốn Jamie Kisgen – Lippincott Illustrated Reviews: Pharmacology – Sixth Edition.



Thông tin bên lề

Kháng sinh và các thuốc nói chung cần tuân theo nguyên tắc về tính an toàn và hiệu quả. Việc dùng thuốc kháng sinh không đúng cách có thể gây tai biến cho cơ thể như dị ứng, nhiễm độc cơ quan, loạn khuẩn đường ruột gây tiêu chảy; ngoài ra sử dụng kháng sinh bừa bãi sẽ gây hiện tượng vi khuẩn đề kháng với thuốc kháng sinh.

+ Chỉ sử dụng thuốc khi thật sự mắc bệnh nhiễm khuẩn. Trên lâm sàng bác sĩ điều trị thường dựa vào kinh nghiệm, xét nghiệm, kháng sinh đồ để xác định được có hay không tình trạng nhiễm khuẩn.

+ Chọn đúng loại kháng sinh để phát huy hiệu quả.

+ Cho thuốc tùy vào thể trạng người bệnh, đặc biệt với các phụ nữ có thai, người già, người suy gan suy thận.

+ Dùng kháng sinh đúng liều.

+ Dùng thuốc đủ thời gian, tùy theo loại bệnh và tình trạng bệnh mà thời gian dùng kháng sinh khác nhau nhưng thông thường là không dưới 5 ngày.

+ Chỉ phối hợp kháng sinh khi thật cần thiết.

+ Phòng ngừa bằng thuốc kháng sinh phải thật sự hợp lý, chỉ có các trường hợp đặc biệt bác sĩ điều trị mới cho dùng thuốc kháng sinh để phòng ngừa. Ví dụ: Dùng thuốc kháng sinh hậu phẫu để ngừa nhiễm khuẩn hậu phẫu, hay ngừa tái phát sau viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.

Từ các nguyên tắc này có thể thấy rằng sự dụng kháng sinh hợp lý là vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn, vì vậy chỉ nên sử dụng theo sự chỉ định của bác sĩ.

Lựa chọn kháng sinh và liều lượng

– Việc lựa chọn kháng sinh trong điều trị phụ thuộc vào hai yếu tố: người bệnh và vi khuẩn gây bệnh. Đối với người bệnh ta cần quan tâm đến tiền sử dị ứng thuốc, tình trạng bệnh và mức độ nặng của bệnh, các bệnh liên quan đến sự chuyển hóa thuốc như suy gan, suy thận, lứa tuổi cũng là một yếu tố cần quan tâm, phụ nữ có thai và cho con bú cũng vậy, nhiều loại thuốc gây hại cho thai nhi và có thể gây quái thai hay sảy thai. Về vi khuẩn cần quan tâm đến loại vi khuẩn và độ nhạy cảm với kháng sinh của từng loại vi khuẩn riêng biệt. Do vậy cần phải thường xuyên cập nhật tình trạng kháng kháng sinh để lựa chọn thuốc cho phù hợp. Các biện pháp phối hợp có thể được sử dụng để giảm mật độ vi khuẩn và tăng nồng độ thuốc tại ổ nhiễm khuẩn khi cần thiết.

– Việc kê đơn cần chú ý đến cả khả năng vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh và tính kinh tế qua từng đơn thuốc. Những kháng sinh mới cần được sử dụng một cách hạn chế, thường chỉ trong các trường hợp vi khuẩn kháng các loại kháng sinh đang dùng. Việc sử dụng kháng sinh mới cho những vi khuẩn thông thường sẽ không đảm bảo về mặt kinh tế, hơn nữa lại làm cho tình trạng khan hiếm kháng sinh ngày một tăng lên.

– Liều dùng của kháng sinh phụ thuộc nhiều yếu tố: Tuổi, cân nặng, mức độ nặng của bệnh và tình trạng chức năng gan thận của bệnh nhân. Liều dùng cho sơ sinh và trẻ nhũ nhi có hướng dẫn riêng theo từng chuyên luận do dược động học khác biệt so với người lớn. Liều lượng trong các tài liệu hướng dẫn chỉ là gợi ý ban đầu và đối với các trường hợp nhiễm khuẩn nặng thì không có liều chuẩn. Nếu bác sĩ điều trị kê đơn không đủ liều sẽ dẫn đến khả năng kháng thuốc và điều trị kém hiệu quả hơn. Ngược lại, với những kháng sinh có độc tính cao và phạm vi điều trị hẹp (ví dụ: các aminoglycosid, polypeptide) thì phải đảm bảo nồng độ thuốc trong máu đạt tiêu chuẩn, do đó cần phải thường xuyên giám sát nồng độ này để tránh các hậu quả không mong muốn.


Nguyên lý sử dụng kháng sinh_Y học lâm sàng

Leave a Reply

escort99.com