Kháng sinh Cephalosporin

Kháng sinh Cephalosporin

Cephalosporin gây ra tác dụng diệt khuẩn bằng cách ức chế quá trình sinh tổng hợp vách tế bào vi khuẩn, tương tự như cơ chế diệt khuẩn của các Penicillin.

∙ Nhóm thuốc này rất hữu ích trên lâm sàng bởi chúng có độc tính thấp và phổ rộng.

Tất cả các Cephalosporin đều không có tác dụng lên enterococci và cho tới gần đây, chúng đều không có tác dụng lên S. aureus kháng Methicillin (methicillin resistant S. aureus – MRSA). Tuy nhiên, hiện nay đã có một số Cephalosporin diệt được MRSA.

ĐIỀU TRỊ

Cephalosporin thế hệ 1

Cephalosporin thế hệ 1 có tác dụng trên staphylococci, streptococci, và hầu hết các loài Escherichia coli, Klebsiella và Proteus. Thuốc có tác dụng hạn chế đối với vi khuẩn kỵ khí và trực khuẩn Gram âm ở ruột.

Cefazolin (1–2 g IV/IM mỗi 8 giờ) là thuốc đường tĩnh mạch được sử dụng phổ biến nhất. Cefadroxil (500 mg tới 1 g PO mỗi 12 giờ) và cephalexin (250 đến 500 mg PO mỗi 6 giờ) được dùng đường uống. Với tác dụng diệt khuẩn hạn chế, các thuốc này thường được dùng để điều trị nhiễm khuẩn da và mô mềm, nhiễm khuẩn đường niệu, các nhiễm khuẩn nhẹ do MSSA và để làm kháng sinh dự phòng phẫu thuật (cefazolin).

Cephalosporin thế hệ 2

Cephalosporin thế hệ 2 có phổ rộng hơn trên vi khuẩn Gram âm đường ruột và được chia thành 2 nhóm thuốc hiệu quả với nhiễm khuẩn phía trên cơ hoành và hiệu quả với nhiễm khuẩn dưới cơ hoành.

Cefuroxime (1,5 g IV/IM mỗi 8 giờ) hiệu quả trong điều trị nhiễm khuẩn ở vị trí phía trên cơ hoành. Thuốc có tác dụng đối với tụ cầu, liên cầu và vi khuẩn kỵ khí Gram âm. Thuốc dùng điều trị các nhiễm khuẩn da và mô mềm, nhiễm khuẩn đường niệu có biến chứng và nhiễm khuẩn đường hô hấp ở cộng đồng. Thuốc không chắc chắn có phổ với Bacteroides fragilis.

Cefuroxim axetil (250 đến 500 mg PO mỗi 12 giờ), cefprozil (250 đến 500 mg PO mỗi 12 giờ) và cefaclor (250 đến 500 mg PO mỗi 12 giờ) là các Cephalosporin thế hệ 2 đường uống được dùng trong điều trị viêm phế quản, viêm họng, viêm tai giữa, nhiễm khuẩn đường niệu, nhiễm khuẩn mô mềm khu trú và dùng trong phác đồ xuống thang đường uống cho viêm phổi hoặc viêm tế bào đáp ứng với Cephalosporin dạng đường tĩnh mạch.

Cefoxitin (1–2 g IV mỗi 4–8 giờ) và cefotetan (1–2 g IV mỗi 12 giờ) đều hiệu quả trong điều trị các nhiễm khuẩn ở phía dưới cơ hoành. Các thuốc này có tác dụng diệt khuẩn đối với vi khuẩn Gram âm và vi khuẩn hiếu khí, bao gồm cả B. fragilis, thuốc thường được sử dụng trong nhiễm khuẩn ổ bụng, nhiễm khuẩn phụ khoa hay dự phòng phẫu thuật phụ khoa, bao gồm viêm ruột thừa và viêm vùng chậu.

Cephalosporin thế hệ 3

Cephalosporin thế hệ 3 bao phủ lên cả vi khuẩn ưa khí Gram âm và vẫn còn tác dụng đáng kể lên streptococci và MSSA. Thuốc có tác dụng trung bình lên vi khuẩn kỵ khí nhưng nhìn chung, không diệt trừ B. fragilis được.

Ceftazidim là cephalosporin thế hệ 3 duy nhất dùng để điều trị nhiễm khuẩn nặng do Pseudomonas aeruginosa. Một số thuốc trong nhóm có thể xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương và do đó, hiệu quả trong điều trị viêm màng não.

Cephalosporin thế hệ 3 không đáng tin cậy trong điều trị nhiễm khuẩn nặng do vi khuẩn sinh AmpC β-lactamase, kể cả khi có kết quả kháng sinh đồ. Những tác nhân gây bệnh này có thể điều trị theo kinh nghiệm bằng carbapenem, cefepime hoặc flouroquinolone.

Ceftriaxone (1 đến 2 g IV/IM mỗi 12-24 giờ) và cefotaxime (1 đến 2 g IV/IM mỗi 4-12 giờ) rất giống nhau về phổ và hiệu quả diệt khuẩn. Chúng có thể dùng để điều trị theo kinh nghiệm đối với viêm thận, nhiễm khuẩn đường niệu, viêm phổi, nhiễm trùng ổ bụng (kết hợp với metronidazole), lậu và viêm màng não. Ngoài ra, cũng được dùng để điều trị viêm xương tủy, viêm khớp, viêm màng trong tim và nhiễm khuẩn mô mềm gây ra bởi các chủng nhạy cảm với thuốc.

Cefpodoxime proxetil (100 đến 400 mg PO mỗi 12 giờ), cefdinir (300 mg PO mỗi 12 giờ), ceftibuten (400 mg PO mỗi 12 giờ) và cefditoren pivoxil (200 đến 400 mg PO mỗi 12 giờ) là các cephalosporin thế hệ 3 đường uống, được dùng trong điều trị viêm phế quản, viêm xoang có biến chứng, viêm tai giữa và nhiễm khuẩn đường niệu.

Các thuốc này còn được sử dụng trong liệu pháp xuống thang điều trị viêm phổi cộng đồng. Đối với điều trị lậu không có biến chứng, có thể dùng đơn độc Cefpodoxinme theo phác đồ đơn trị liệu.

Ceftazidime (1 đến 2 g IV/IM mỗi 8 giờ) có thể dùng để điều trị nhiễm khuẩn do vi khuẩn P. aeruginosa nhạy cảm với thuốc.

Cephalosporin thế hệ thứ 4

Cephalosporin thế hệ thứ 4, cefepime (500 mg đến 2 g IV/IM mỗi 8–12 giờ) có tác dụng mạnh lên vi khuẩn hiếu khí Gram âm, bao gồm cả P. aeruginosa và các vi khuẩn sinh AmpC β-lactamase.

Tác dụng của thuốc lên vi khuẩn Gram dương tương tự như ceftriaxon và cefotaxime. Cefepime thường được dùng để điều trị theo kinh nghiệm đối với bệnh nhân sốt giảm bạch cầu.

Nó cũng có vai trò đáng chú ý trong điều trị nhiễm khuẩn do vi khuẩn Gram âm kháng kháng sinh và một số nhiễm khuẩn liên quan đến cả vi khuẩn Gram âm và Gram dương hiếu khí ở hầu hết các vị trí trên cơ thể, mặc dù kinh nghiệm lâm sàng trong điều trị viêm màng não của thuốc còn hạn chế.

Thuốc có hiệu lực mạnh với vi khuẩn kỵ khí nên được thêm vào phác đồ điều trị nếu nghi ngờ bệnh nhân nhiễm khuẩn do vi khuẩn kỵ khí.

Cephalosporin thế hệ thứ 5

Hiện nay đã có Cephalosporin phổ rộng tiêu diệt được MRSA. Ceftobiprole không được phép sử dụng ở Mỹ nhưng ceftaroline (Cục quản lý dược và thực phẩm [Food and Drug Administration–FDA] Hoa Kỳ đã chấp thuận liều dùng 600 mg IV mỗi 12 giờ; 600 mg IV mỗi 8 giờ là liều trong các nhiễm khuẩn nặng hơn) được chỉ định cho nhiễm khuẩn da cấp tính, nhiễm khuẩn cấu trúc da và viêm phổi cộng đồng.

Ceftaroline có tác dụng tương tự ceftriaxon đối với vi khuẩn Gram âm và hầu như không có hoạt tính đối với Pseudomonas spp., Acinetobacter, AmpC β-lactamase, β-lactamase phổ rộng (extended-spectrum β-lactamase ESBL) và các chủng Gram âm Klebsiella pneumoniae sinh carbapenem (Klebsiella pneumoniae carbapenemase KPC).

Đặc điểm để phân biệt ceftarolin với các Cephalosporin thế hệ trước là ái lực của thuốc đối với PBP2a (penicillin binding protein 2a, protein gắn penicilin 2a)–một receptor trên thành tế bào vi khuẩn giúp MRSA kháng với tất cả các β-lactam khác.

Ceftarolin liên kết với receptor PBP2a, ức chế quá trình sinh tổng hợp vách tế bào dẫn đến phá hủy tế bào của MRSA, S. aureus nhạy trung bình với vancomycin (vancomycin intermediately S. aureus– VISA) hoặc S. aureus kháng vancomycin (vancomycin-resistant S. aureus–VRSA). Tuy nhiên, giống như tất cả các Cephalosporin khác, Ceftaroline không có tác dụng đối với các chủng Enterococcus.

LƯU Ý ĐẶC BIỆT

Tất cả các dẫn xuất Penecillin hiếm khi có liên quan tới shock phản vệ, viêm thận kẽ, thiếu máu hay giảm bạch cầu. Khoảng 5–10% bệnh nhân dị ứng với Penecillin có dị ứng chéo với Cephalosporin.

Cephalosporin không nên dùng cho bệnh nhân đã từng dị ứng nặng với Penecillin (v.d., shock phản vệ, nổi mề đay) mà không làm test thử da hoặc giải mẫn cảm, hoặc cả hai.

Phác đồ điều trị kéo dài liều cao (>2 tuần) cần được theo dõi thông qua đo creatinine máu mỗi tuần và công thức máu. Ceftriaxon có thể gây ra sỏi mật. Cần ngừng ceftriaxon nếu phát hiện bệnh nhân bị sỏi mật.


Nhóm kháng sinh Penicillin

Leave a Reply

Web truyện Viêm gan Bệnh gan mật