https://www.autmhq.org/profile/bocoran-slot-gacor-hari-ini/profile https://www.autmhq.org/profile/jam-slot-gacor-gampang-menang/profile https://www.autmhq.org/profile/slot-deposit-pulsa/profile https://www.autmhq.org/profile/slot-gacor-terbaru-hari-ini/profile https://www.autmhq.org/profile/link-bocoran-slot-gacor-hari-ini/profile Slot Gacor https://www.portabrace.com/profile/slot-gacor-terbaru-gampang-menang/profile
https://dogrywka.pl/wp-includes/slot/ Jumpabola https://ogino.co.uk/wp-includes/slot-gacor/ Pragmatic



Ho ra máu

Ho ra máu

Ho ra máu (HRM) là một triệu chứng thường gặp trong bệnh học phổi phế quản nó chiếm 83,2% trong tổng số các nguyên nhân gây ho ra máu (Hoàng Minh, 1990), trong số đó nguyên nhân do lao phổi chiếm >80%, vì vậy khi thấy một trường hợp HRM người ta thường cho rằng người đó mắc bệnh lao phổi.


Khái niệm:

HRM là máu chảy ra từ dưới thanh môn (đường hô hấp dưới) ho khạc (trào hoặc ộc) ra ngoài theo đường miệng hoặc mũi. Khái niệm này loại trừ khả năng chảy máu do tổn thương vùng mũi họng hay răng miệng, hoặc nôn ra máu do máu chảy từ đường tiêu hoá như do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản (do xơ gan gây tăng áp lực tĩnh mạch cửa), loét dạ dày tá tràng, chảy máu đường mật… Máu nôn ra thường có đặc điểm không đỏ tươi (màu đen), không có bọt, có lẫn thức ăn, có mùi chua của dịch vị, đôi khi phân biệt rất khó vì chỉ nghe qua lời khai của BN.

Cơ chế gây HRM:

– Do giãn vỡ các mạch máu tân tạo (trong lao phổi), vỡ các phình mạch Rasmussen (do lao), rối loạn vận mạch do rối loạn thần kinh thực vật, stress… do dị ứng, hoặc do tổn thương ăn mòn thành của các mao mạch gây thủng, đứt hay vỡ các mao mạch, hoặc do tăng áp lực động mạch phế quản do tăng huyết áp.

– Điều kiện thuận lợi: Thay đổi thời tiết (gây rối loạn vận mạch), stress, bức xúc về mặt tâm lý tinh thần (tức giận, buồn, vui…), lao động nặng, gắng sức, thức khuya, ho nhiều hoặc có động tác hô hấp bất thường đột ngột (ho làm tăng áp lực đột ngột phổi phế quản làm rách, đứt tổn thương xơ co kéo tổ chức phổi).

Nguyên nhân:

Nguyên nhân tại phổi:

– Lao phổi: là nguyên nhân thường gặp nhất chiếm > 80% tổng số các nguyên nguyên nhân gây HRM. Ho ra máu có thể gặp trong thời kỳ lao phổi mới đang tiến triển, lao xơ hang mạn tính, lao phổi tái phát, thậm chí lao phổi đã được điều trị khỏi (ta gọi đó là HRM di chứng do lao phổi cũ, hoặc di chứng giãn phế quản sau lao phổi).

– Giãn phế quản: Là nguyên nhân xếp thứ hai sau lao phổi, thường gặp ở thể khô, chiếm 9,6% trong tổng số nguyên nhân HRM (theo Hoàng Minh 1990).

– Ung thư phổi phế quản: tiên phát hoặc thứ phát là nguyên nhân xếp hàng thứ 3, chiếm 2,7% (Hoàng Minh 1990) trong tổng số nguyên nhân gây HRM, nhưng là triệu chứng thường gặp xếp hàng thứ 2 (chiếm 30,6%) sau triệu chứng đau ngực trong ung thư phế quản (Nguyễn Đình Kim 1990). Trong ung thư phế quản số lượng máu ho ra thường không nhiều, máu thường có màu bầm đen (màu máu cá) cũng có khi đỏ tươi, lẫn đờm, số lượng ít.

– Các bệnh viêm nhiễm ở phổi: áp xe phổi, nấm phổi, sán lá phổi, viêm phổi, viêm phế quản cấp hoặc mạn tính, kén nước (kyst hydatique), phù phổi cấp tổn thương bởi hoá chất, dị vật phế quản, sặc xăng dầu…

  Viêm dạ dày | Y học lâm sàng

– Các nguyên nhân khác ở phổi: bụi phổi, lạc nội mạc tử cung vào phổi, chấn thương ngực (do sức ép bom, sập hầm, gãy xương sườn), các thủ thuật nội soi phế quản, chọc dò sinh thiết phổi phế quản, kén phế quản…

Nguyên nhân ngoài phổi: Có khi không tìm thấy được nguyên nhân.

Bệnh toàn thân: Bệnh ưa chảy máu (hemophilia), thể trạng chảy máu gồm cả do điều trị thuốc chống đông, sốt xuất huyết, rối loạn máu đông máu chảy, dị ứng, nhiễm khuẩn huyết, bệnh Scorbut, xuất huyết giảm tiểu cầu, suy tuỷ, bệnh bạch cầu cấp.v.v…

– Bệnh tim mạch và một số bệnh hiếm gặp khác:

+ Vỡ phình động mạch chủ ngực do xơ vữa động mạch, cao huyết áp (hiếm gặp thường gây chảy máu ồ ạt và chết nhanh chóng)

+ Thuyên tắc mạch phổi gây nhồi máu phổi, thông động tĩnh mạch

+ Hẹp van 2 lá, suy tim trái do cao huyết áp, phù phổi cấp (huyết động)

+ Cao huyết áp động mạch phổi nguyên phát.

+ Hội chứng Eisenmenger, Goodpasture, tinh bột phổi.

Ho ra máu

Phản xa ho

Điều trị

Nguyên tắc chung:

– Trước hết cần để BN yên tĩnh, tránh những cử động, di chuyển, thăm khám không cần thiết (trường hợp HRM nhiều), có thể dùng thuốc an thần để trấn an BN giúp cho bệnh nhân yên tâm, bớt lo sợ, tin tưởng vào thầy thuốc.

– Điều trị triệu chứng: Cầm máu bằng một số thuốc đã trình bày trên.

– Hồi sức cấp cứu: Bảo đảm thông thoáng đường thở (thông khí phế nang) bằng cách hút đờm giãi, máu, nếu có doạ tắc nghẽn phế quản cần đặt nội khí quản hoặc mở khí quản, cho thở oxy qua sonde, hoặc thở máy khi cần thiết. Đồng thời bồi phụ khối lượng tuần hoàn bằng máu (nếu có mất máu nhiều), hoặc các dung dịch truyền thay thế như dung dịch cao phân tử, huyết thanh đẳng trương mặn hoặc ngọt. Lưu ý mục đích của truyền máu là để bù khối lượng máu mất và bảo đảm khối lượng tuần hoàn chứ không phải để bồi phụ các yếu tố đông máu.

– Điều trị nguyên nhân: Điều trị cầm máu chỉ có ý nghĩa khi đồng thời tìm và điều trị nguyên nhân kết hợp.

Xử trí một số trường hợp ho ra máu cụ thể:

Ho ra máu nhẹ: (<50ml/24giờ)

– Chăm sóc chung: BN cần được nghỉ ngơi yên tĩnh, hạn chế hoạt động, đi lại, tránh các yếu tố tâm lý tinh thần, stress (như buồn phiền, lo lắng, tức giận), động viên để BN yên tâm bớt lo sợ. Phần lớn máu có thể tự cầm. Dùng thức ăn lỏng, dễ tiêu (không dùng thức ăn uống nóng), uống nước mát.

– Có thể dùng thuốc an thần như Seduxen uống, thuốc cầm máu Adrenoxyl, vitamin K, vitamin P, C…

– Phần lớn các trường hợp này không cần đặc vấn đề cấp cứu hồi sức nhưng cần tích cực tìm nguyên nhân gây HRM.

Ho ra máu số lượng vừa: (50ml – 200ml/24giờ)

  Rối loạn lo âu - Y học lâm sàng

– Chăm sóc chung: Tương tự HRM nhẹ, để BN nằm ở tư thế Fowler hoặc nghiên về phía bên có tổn thương (nếu đã biết rõ).

– Thuốc dùng post hypophyse 5UI pha trong 10ml nước muối (hoặc đường) đẳng trương tiêm tĩnh mạch chậm, hoặc pha 10UI – 20UI trong 250ml huyết thanh đẳng trương truyền tĩnh mạch.

Hoặc dùng Morphin 10mg tiêm bắp (hoặc tĩnh mạch chậm) nếu không có tình trạng suy hô hấp mạn tính, có thể dùng lại sau 3 giờ nếu BN tiếp tục HRM.

Ho ra máu nhiều và nặng: (>200ml/24giờ)

– Chăm sóc chung: an thần tương tự như trên.

– Dùng hocmon thuỳ sau tuyến yên 10UI – 50UI pha trong 250ml dung dịch đẳng trương truyền tĩnh mạch, hoặc/và  Morphin 10mg tiêm bắp hoặc dưới da.

– Bồi phụ khối lượng tuần hoàn bằng cách truyền máu nếu mất máu nhiều: truyền máu từ 250 – 750ml hoặc truyền dung dịch điện giải 1 – 3 lít/24giờ.

– Nếu BN HRM ồ ạt, sặc sụa nên dùng Morphin 5 – 10mg pha trong 10ml dung dịch đẳng trương tiêm tĩnh mạch chậm. Nếu dùng Morphin vẫn không đỡ HRM, có thể dùng đông miên nhân tạo (nếu không có chống chỉ định): Dolargan 100mg + Pipolphen 50mg + Aminazin 25 mg pha trong một lọ thuốc sạch dùng theo 2 cách:

+ Cách 1: Chia 2 hoặc 3 lần tiêm bắp/24giờ

+ Cách 2: Pha cả 3 ống thuốc trên trong 250ml dung dịch đẳng trương truyền tĩnh mạch 10 – 20 giọt/phút. Chú ý theo dõi sát mạch, huyết áp, nhịp thở. Nếu truyền nhanh có thể dẫn tới hôn mê, lưu ý thận trọng ở BN có suy hô hấp, người già, suy kiệt, phản xạ ho kém dễ dẫn đến tắc nghẽn phế quản.

– Làm thông thoáng đường thở bằng cách hút đờm giãi, hút máu, thở oxy.

– Dụng cụ mở khí quản phải chuẩn bị sẳn sàng khi có nguy cơ doạ tắc nghẽn phế quản, các tác giả nước ngoài khuyên nên chủ động đặt nội khí quản, hoặc đặt sonde Forgathy để bảo vệ phổi lành nếu có HRM nhiều.

– Mổ cấp cứu cắt bỏ phần phổi bị tổn thương, chỉ thực hiện được ở những cơ sở có đủ điều kiện

– Thủ thuật bít tắc động mạch phế quản (hiện nay ít dùng), được thực hiện khi HRM được điều trị ổn định (đã hoặc) có nguy cơ HRM tái phát nhiều lần với số lượng nhiều gây nguy hiểm đến tính mạng BN.

HRM doạ tắc nghẽn hoặc tắc nghẽn:

– Điều trị như HRM nặng

– Có thể đặt nội khí quản, hoặc mở khí quản mục đích bảo đảm thông thoáng đường thở, hút cục máu đông gây tắc, thở oxy qua sonde hoặc thở máy.

Ho ra máu sét đánh: Thường do vỡ đứt một mạch máu lớn trong hang lao, vỡ phình mạch lớn, hoặc đứt chỗ nối thông động mạch phổi – động mạch phế quản, BN chết ngay không kịp cấp cứu (mặc dù ở cơ sở có đủ điều kiện cấp cứu) do mất quá nhiều máu, truỵ mạch và tắc nghẽn diện rộng cây phế quản.

Đặc điểm bệnh lao

Điều trị bệnh lao


4 Comments

  1. rokUrgeve November 13, 2021
  2. dureJeady November 13, 2021
  3. order priligy online November 14, 2021
  4. Prednisone November 15, 2021

Leave a Reply

https://c.mi.com/thread-4099158-1-0.html https://aariwork.in/wp-includes/article/ https://www.escapefromwatchtower.com/ https://thebakersavenue.com/wp-includes/slot-online/ https://a3anjou.com/community/profile/bocoran-slot-gacor-hari-ini/ https://kitzap.co.uk/community/profile/bocoran-slot-gacor-hari-ini/ https://crazy-stir.com/community/profile/jam-slot-gacor/ https://gmisr.org/forum/profile/bocoran-slot-gacor-hari-ini/ https://isawamovie.com/community/profile/agen-slot-gacor-hari-ini/ https://a3anjou.com/community/profile/judi-slot-terbaru/