Cơ chế rung nhĩ

Cơ chế rung nhĩ

Định nghĩa

– Rung nhĩ là rối loạn nhịp nhanh trên thất đặc trưng bởi sự hoạt hóa nhĩ không đồng bộ làm cho suy chức năng cơ học của nhĩ.
– Rung nhĩ gắn liền với sự gia tăng nguy cơ đột quỵ, suy tim và tỉ lệ tử vong do mọi nguyên nhân, nhất là ở phụ nữ.

 

Cơ chế

Thuyết ổ có tự động tính
– Giả thuyết ổ rung nhĩ khu trú được phù hợp với mô hình thực nghiệm của aconitine (cây phụ tử) và rung nhĩ được tạo ra bằng tạo nhịp trong đó loạn nhịp tim chỉ tồn tại trong những vùng cơ nhĩ bị cô lập.
Thuyết đa sóng nhỏ (do Moe và cộng sự đưa ra)
– Như là cơ chế vào lại của rung nhĩ. Moe cho rằng phân đoạn của các sóng thẳng lan truyền qua nhĩ dẫn tới sự duy trì các sóng con. Theo mô hình này, số lượng của các sóng trong bất kỳ thời điểm nào phụ thuộc vào thời kỳ trơ, khối cơ và tốc độ dẫn truyền ở các phần khác nhau của tâm nhĩ.
Các yếu tố tham gia vào rung nhĩ
– Liên quan tăng sinh, duy trì RN: viêm, thần kinh thực vật, thiếu máu nhĩ, dãn nhĩ, thay đổi cấu trúc liên quan đến tuổi, dẫn truyền lệch hướng (anisotropic)
– Tăng trương lực giao cảm, phó giao cảm có thể khởi phát RN.
– Có liên quan chặt chẽ giữa hội chứng ngừng lúc ngủ, tăng huyết áp và RN.

Nguyên nhân

– Rung nhĩ hồi phục: các nguyên nhân tạm thời như rượu, phẫu thuật, điện giật, nhồi máu cơ tim, viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim, thuyên tắc mạch phổi hay bệnh lý phổi khác, các rối loạn chuyển hóa, cường giáp.
– Không kèm bệnh tim (30-45% rung nhĩ kịch phát, 20-25% rung nhĩ bền bỉ) xảy ra ở bệnh nhân trẻ mà không có bệnh lý nào.
– Bệnh nội khoa kết hợp với rung nhĩ
+ Bệnh phổi.
+ Bệnh tim mạch : bệnh van tim (thường gặp nhất là bệnh van hai lá), suy tim, tăng huyết áp, bệnh mạch vành.
+ Rung nhĩ có thể phối hợp với bệnh cơ tim phì đại, bệnh cơ tim giãn, tim bẩm sinh (điển hình là thông liên nhĩ ở người lớn), amylosis, hội chứng Pick.
+ Bệnh tim khác: sa van hai lá, tâm phế, giãn vô căn nhĩ trái.
+ Hội chứng Pick-Wick.
+ Rung nhĩ gia đình.

Triệu chứng

Lâm sàng 

Rung nhĩ có biểu hiện lâm sàng đa dạng, có thể tự hết hay phải sử dụng thuốc để cắt cơn.
Sau một thời gian xác định được : số lượng, độ dài cơn, tần suất, kiểu khởi phát và đáp ứng điều trị

Cơ năng  

– Đánh trống ngực, choáng váng, khó chịu, ngất, khó thở đau ngực, mệt mỏi, đầu óc quay cuồng hay ngất hay có thể có biểu hiện của biến chứng tắc mạch (huyết khối được hình thành theo tam chứng Wirchow: ứ máu, rối loạn chức năng nội mạc và tăng yếu tố đông máu) hay đợt suy tim nặng lên.
– Đa niệu có thể liên quan đến sự giải phóng peptid lợi niệu nhĩ, đặc biệt là khi bắt đầu hay kết thúc rung nhĩ
– Nếu rung nhĩ nhanh thì các triệu chứng cơ năng không rõ ràng.

Thực thể 

– Nghe tim loạn nhịp hoàn toàn (không đều về tần số, biên độ, lúc nhanh lúc chậm), mạch quay không trùng với nhịp tim.
– Có thể thấy có bệnh van tim, bệnh cơ tim, suy tim.
– Trong cuồng nhĩ có thể thấy các triệu chứng tương tự ngoại trừ nhịp tim có thể đều, có thể nhìn thấy song rung tĩnh mạch nhanh ở tĩnh mạch cổ.
– Huyết áp: Thường thấp, thay đổi qua các lần đo.

Cận lâm sàng

ECG:
– ECG ngoại trú: (Holter) rất tốt để phát hiện, theo dõi rung nhĩ.
– Sóng P và đường đẳng điện được thay thế bằng các sóng f (tần số rất cao 350-600 lần/phút)
– Đáp ứng thất : các phức bộ QRS thay đổi nhất về biên độ, chủ yếu là các khoảng RR rất thay đổi – đoạn dài đoạn ngắn.

Chụp Xquang phổi:
– Đánh giá buồng tim lớn, phát hiện bệnh phổi nền và giường mạch phổi.
Siêu âm tim hai chiều:

– Đánh giá kích thước nhĩ trái, thất, độ dày thành, bệnh van tim..
Xét nghiệm đánh giá chức năng tuyến giáp, thận, gan, điện giải đồ.
Peptid lợi tiểu Na type B (BNP ) và peptid lợi niệu nhĩ (ANP ): đều liên quan với rung nhĩ. ANP thấp liên hệ với sự thoái hóa tế bào cơ nhĩ (khi rung nhĩ dai dẳng). BNP cao có thể báo hiệu tắc mạch hay rung nhĩ tái đi tái lại
Siêu âm thực quản.
Thăm dò điên sinh lý.


Phân độ suy tim

2 Comments

  1. dureJeady November 13, 2021
  2. Priligy November 14, 2021

Leave a Reply