Cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn

Cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn

Phân loại đề kháng kháng sinh: có hai dạng đề kháng là đề kháng giả và đề kháng thật.

Đề kháng giả:

Có biểu hiện là đề kháng nhưng không phải là bản chất, tức là không do nguồn gốc di truyền. Ví dụ: hiện tượng đề kháng của vi khuẩn khi nằm trong các ổ áp xe nung mủ lớn hoặc có tổ chức hoại tử bao bọc, kháng sinh không thấm tới được ổ viêm và vi khuẩn gây bệnh nên không phát huy được tác dụng, hoặc khi vi khuẩn ở trạng thái nghỉ (không nhân lên hoặc không chuyển hóa) thì không chịu tác dụng của những thuốc ức chế quá trình sinh tổng hợp chất, ví dụ: vi khuẩn lao nằm trong hang lao. Ngoài ra, khi hệ thống miễn dịch của cơ thể bị suy giảm hay chức năng của đại thực bào bị hạn chế thì cơ thể không đủ khả năng loại trừ được những vi khuẩn đã bị ức chế ra khỏi cơ thể, vì thế khi không còn thuốc kháng sinh chúng hồi phục và phát triển lại.

Đề kháng thật:

Chia thành hai nhóm là đề kháng tự nhiên và đề kháng thu được.

     +   Đề kháng tự nhiên:

Một số vi khuẩn không chịu tác động của một số thuốc kháng sinh nhất định, ví dụ: Pseudomonas không chịu tác dụng của penicillin hoặc tụ cầu không chịu tác dụng của colistin. Các vi khuẩn không có vách như Mycoplasma  sẽ không chịu tác dụng của kháng sinh ức chế sinh tổng hợp vách, ví dụ: B- lactam.

   +  Đề kháng thu được:

Do một biến cố di truyền là đột biến hoặc nhận được gien đề kháng làm cho một vi khuẩn đang từ không trở nên có gien đề kháng. Các gien đề kháng nằm trên nhiễm sắc thể hay plasmid hoặc trên transposon. Chúng có thể lan truyền được từ vi khuẩn này sang vi khuẩn kia thông qua hình thức vận chuyển di truyền khác nhau như biến nạp, tải nạp, tiếp hợp và chuyển vị trí (transposition).

Cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn

Gien đề kháng tạo ra sự đề kháng bằng cách:

–  Làm giảm tính thấm của màng nguyên tương, ví dụ kháng tetracyclin; gien đề kháng tạo ra một protein đưa ra màng, ngăn cản kháng sinh ngấm vào tế bào; hoặc làm mất khả năng vận chuyển qua màng do cản trở protein mang vác và kháng sinh không được đưa vào trong tế bào.

–  Làm thay đổi đích tác động: do một protein cấu trúc hoặc do một nucleotid trên tiểu phần 30S hoặc 50S của ribosom bị thay đổi nên kháng sinh không bám được vào đích (ví dụ: streptomycin, erythromycin) và vì vậy không phát huy được tác dụng.

–  Tạo ra các isoenzym không có ái lực với kháng sinh nữa nên bỏ qua (không chịu) tác động của kháng sinh, ví dụ kháng sulfamid và trimetoprim.

–  Tạo ra enzym: các enzym do gien đề kháng tạo ra có thể:

+  Biến đổi cấu trúc hóa học của phân tử kháng sinh làm kháng sinh mất tác dụng.

+  Phá hủy cấu trúc hóa học của phân tử kháng sinh, ví dụ B- lactamase làm cho các kháng sinh nhóm B-lactam mất tác dụng.

        Cơ chế lan truyền gien đề kháng

Một vi khuẩn có gien đề kháng, nó sẽ truyền dọc (vertical) sang các thế hệ sau qua sự phân chia của tế bào; ngoài ra thông qua các hình thức vận chuyển di truyền, gien đề kháng có thể được truyền ngang (horizontal) từ vi khuẩn này sang vi khuẩn khác. Xét về mặt dịch tễ học, gien đề kháng có thể được lan truyền trên bốn phương diện, đó là:

– Trong tế bào: thông qua biến cố tái tổ hợp hoặc chuyển vị trí của transposon, gien đề kháng có thể truyền từ phân tử AND này sang phân tử AND khác ngay trong một tế bào.

– Giữa các tế bào: thông qua các hình thức vận chuyển di truyền như tiếp hợp, biến nạp và tải nạp, gien đề kháng có thể truyền từ tế bào này sang tế bào kia trong cùng một loài hay khác loài.

– Trong quần thể vi sinh vật: thông qua sự chọn lọc dưới tác dụng của kháng sinh, các dòng vi khuẩn đề kháng được chọn lọc và phát triển thay thế các dòng vi khuẩn nhạy cảm.

– Trong quần thể đại sinh vật: thông qua sự truyền nhiễm (qua không khí, thức ăn, bụi, dụng cụ…) vi khuẩn đề kháng truyền từ người này sang người khác hoặc từ súc vật sang người.


Một số biện pháp hạn chế gia tăng vi khuẩn kháng kháng sinh

        Chỉ dùng kháng sinh để điều trị những bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn gây ra.

–   Chọn kháng sinh theo kết quả kháng sinh đồ: nên ưu tiên kháng sinh có hoạt phổ hẹp có tác dụng đặc hiệu trên vi khuẩn gây bệnh.

–   Dùng kháng sinh đủ liều lượng và thời gian.

–   Đề cao các biện pháp khử trùng và tiệt trùng, tránh lan truyền vi khuẩn đề kháng.

–   Liên tục giám sát sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn.


Nguyên lý dùng kháng sinh

Leave a Reply

Web truyện Viêm gan Bệnh gan mật .