Cập nhật điều trị nhịp nhanh kịch phát trên thất

Cập nhật điều trị nhịp nhanh kịch phát trên thất

Nhịp nhanh kịch phát trên thất là nhịp tim nhanh đều thường do cơ chế vòng vào lại.

Sự khởi phát nhịp nhanh này thường xuyên và kết thúc đột ngột dẫn đến tên ban đầu của nó là nhịp nhanh kịch phát trên thất.

Nhịp tim của nhịp nhanh trên thất thường vượt quá giới hạn trên của nhịp nhanh xoang khi nghỉ ( > 120l/ phút) có hoặc không thấy rõ sóng P. Nhịp có nguồn gốc trên thất nếu phức bộ QRS hẹp ( < 0,12s) hoặc phức bộ QRS rộng kèm sự xuất hiện của nhánh lạc hướng được biết.

Nhịp nhanh kịch phát trên thất vòng vào lại có thể bao gồm nhịp nhanh vòng vào lại nút nhĩ thất hoặc nhịp nhanh vòng lại nhĩ thất.

Cập nhật điều trị nhịp nhanh kịch phát trên thất

– Nghiệm pháp kích thích phế vị:

Kích thích phế vị và adenosin được lựa chọn điều trị ban đầu ưa thích để kết thúc nhịp nhanh kịch phát trên thất do vòng vào lại ổn định.

– Adenosin:

Nếu nhịp nhanh kịch phát trên thất do vòng vào lại không đáp ứng với nghiệm pháp kích thích phế vị, cho 6mg Adenosin tiêm tĩnh mạch nhanh (Class I), tiêm Adenosin tĩnh mạch nhanh chóng trong vòng 1-3 giây sau đó bơm 20ml Saline.

Nếu nhịp tim không chuyển nhịp trong vòng 1 – 2 phút => cho thêm 12mg TM, nếu tiếp tục thất bại sau 1 – 2 phút cho thêm 12mg. Tác dụng phụ của Adenosin thì phổ biến nhưng chỉ thoáng qua như nổi ban, khó thở, đau ngực thường xuất hiện nhất.

Nếu chuyển nhịp thành công, hầu như chắc chắn nhịp nhanh kịch phát trên thất do vòng vào lại. Theo dõi sự tái phát của bệnh nhân và điều trị với Adenosin hoặc kiểm soát nhịp với tác nhân làm tắc nghẽn sự dẫn truyền qua nút nhĩ thất kéo dài như Diltiazem hoặc beta blocker.

– Chẹn kênh Canxi và Chẹn Bê-ta:

Nếu Adenosin thất bại với chuyển nhịp của nhịp nhanh kịch phát trên thất do vòng vào lại, cố gắng kiểm soát nhịp với chẹn kênh canxi nhóm Nondihydropyridin ( Verapamil hoặc Diltiazem ) hoặc chẹn beta như là tác nhân thứ 2 ( Class IIa).

Những thuốc này chủ yếu hoạt động trên mô nút hoặc làm chậm đáp ứng thất của rối loạn nhịp nhĩ bằng cách làm tắc nghẽn dẫn truyền qua nút nhĩ thất.

Verapamil và diltiazem có thể làm giảm co bóp cơ tim và giảm cung lượng tim trầm trọng ở bệnh nhân với rối loạn chức năng thất trái nặng.

Verapamil và Diltiazem xem như có hại khi cho bệnh nhân rung nhĩ và cuồng nhĩ có liên quan với HC tiền kích thích WPW được biết.

Chẹn beta nên được sử dụng thận trọng ở bệnh nhân với bệnh phổi hoặc suy tim sung huyết.

Verapamil cho 2,5 – 5mg tiêm tĩnh mạch trong 2 phút ( ở những bệnh nhân già trong 3 phút). Nếu không đáp ứng điều trị và không có bất lợi do thuốc gây ra, lặp lại liều 5 – 10mg có thể được thêm vào mỗi 15-30 phút cho đến khi tổng liều 20mg. Verapamil chỉ nên cho ở những bệnh nhân nhịp nhanh kịch phát trên thất phức bộ hẹp do vòng vào lại hoặc những rối loạn nhịp tim đã biết nguồn gốc trên thất. Nó không nên cho ở những bệnh nhân có suy giảm chức năng thất trái hoặc suy tim.

Diltiazem cho liều 15-20 mg tĩnh mạch trong 2 phút ( 0,25mg/kg). Nếu cần thiết, trong 15 phút cho liều 20-25mg ( 0,35mg/kg). Liều duy trì 5-15mg/h, điều chỉnh theo nhịp tim.

Nhiều thuốc chẹn Beta có thể được cho để điều trị rối loạn nhịp nhanh trên thất. Tác dụng phụ của chẹn Beta có thể là nhịp chậm, chậm dẫn truyền nhĩ thất, hạ huyết áp.

Bs Nguyễn Long – BMN


Cập nhật điều trị nhịp nhanh kịch phát trên thất

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *