Cách điều trị bệnh lao

Trang web cung cấp nguồn thông tin và kiến thức đáng tin cậy cho bạn đọc

Cách điều trị bệnh lao

Bệnh lao là một bệnh nhiễm khuẩn và lây, cho nên việc điều trị là nhằm mục đích diệt vi khuẩn (VK) để tránh lây lan. Tuy nhiên cơ thể là một khối thống nhất, do đó để nâng cao hiệu quả điều trị chúng ta cần dùng thuốc (hóa trị liệu) kết hợp với dinh dưỡng nâng cao thể trạng, điều trị triệu chứng và phục hồi chức năng.


Nguyên tắc:

1. Phối hợp thuốc: phối hợp ít nhất 3 loại thuốc kháng lao ngay từ giai đoạn đầu (giai đoạn tấn công) để cùng một lúc diệt một số lượng lớn BK nhằm mục đích hạn chế tối đa sự đột biến kháng thuốc, tránh hiện tượng chọn lọc dòng BK kháng thuốc (hình)

Cách điều trị bệnh lao

2. Đúng liều lượng: Liều lượng thuốc phải đủ để tiêu diệt được BK (xem bảng 3). Để đạt được nồng độ đỉnh huyết thanh cao trong máu cần uống (và tiêm) các thuốc kháng lao cùng một lúc vào buổi sáng (khi đói). Nếu liều thấp dễ tạo sự chọn lọc dòng BK kháng thuốc.

3. Đủ thời gian: Thời gian ngắn nhất cho phép đối với điều trị lao là 6 tháng (nếu có RMP), thông thường từ 8 đến 9 tháng, bảo đảm đủ thời gian diệt được toàn bộ BK để tránh tái phát. Nhiều nghiên cứu cho thấy nếu điều trị thời gian càng ngắn (<6 tháng) tỉ lệ tái phát càng cao.

4. Liên tục và có kiểm soát: Điều trị liên tục với 2 giai đoạn:

+ Giai đoạn tấn công: dùng thuốc hàng ngày

+ Giai đoạn duy trì (hay cách khoảng): dùng thuốc hàng ngày, 2 lần hoặc 3 lần một tuần tùy theo phác đồ điều trị theo liều qui định.

Đồng thời trong quá trình điều trị phải theo dõi kiểm tra kết quả âm hóa đờm để đánh giá hiệu quả điều trị, kịp thời xử trí tai biến thuốc có thể gặp.

Một số phác đồ điều trị lao (của chương trình chống lao quốc gia hiện nay áp dụng từ 01/01/2014):

Hiện nay để tăng cường hiệu quả công tác chống lao, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại đối với BN lao, chương trình Chống lao đã cung cấp thuốc kháng lao về tận các tuyến y tế địa phương (xã, phường), bảo đảm BN được uống (tiêm thuốc) tại trạm y tế dưới sự kiểm soát của nhân viên y tế, gọi là “DOTS”: “hóa trị liệu ngắn hạn có kiểm soát trực tiếp” (DOTS: Directly Observed Treatment Short Course): Giai đoạn tấn công 2 tới 3 tháng với ít nhất 4 loại thuốc kháng lao (SHRZ), giai đoạn duy trì 4 tới 6 tháng dùng ít nhất 2 loại thuốc kháng lao.

1. Phác đồ IA: 2RHZE/4RHE

– Chỉ định: Dùng cho tất cả mọi thể lao mới  ở người lớn (chưa điều trị lao bao giờ hoặc đã từng điều trị lao nhưng dưới 1 tháng).

– Cách dùng: Giai đoạn tấn công (2 tháng đầu) dùng 4 loại thuốc Rifampicin, Rimifon, Pyrazinamide và Ethambutol hàng ngày. Giai đoạn duy trì (4 tháng) dùng 3 thuốc Rifampicin, Rimifon và Ethambutol hàng ngày.

2. Phác đồ IB: 2RHZE/4RH

– Chỉ định: Dùng trong tất cả các trường hợp bệnh lao mới ở trẻ em (chưa điều trị lao bao giờ hoặc đã từng điều trị lao nhưng dưới 1 tháng).

– Cách dùng: Giai đoạn tấn công (2 tháng đầu) dùng 4 loại thuốc Rifampicine, Rimifon, Pyrazinamide và Ethambutol hàng ngày. Giai đoạn duy trì (4 tháng) dùng 2 loại thuốc Rimifon, Rifampicine hàng ngày.

4.2.3. Phác đồ II:  2SRHZE/1RHZE/5RHE

– Chỉ định: Dùng cho các trường hợp lao tái phát, lao bỏ trị, điều trị lại hoặc điều trị thất bại với công thức 1A, 1B và trường hợp bệnh lao được phân loại là “Khác” mà không có điều kiện làm xét nghiệm chẩn đoán lao đa kháng nhanh.

Lưu ý: Trong một số trường hợp lao nặng như lao màng não, lao kê, lao cột sống biến chứng thần kinh đe dọa tính mạng có thể dùng ngay phác đồ II và có thể kéo dài thời gian điều trị tùy theo mức độ bệnh.

– Cách dùng: Giai đoạn tấn công 2 tháng đầu dùng 5 loại thuốc Streptomycine, Rifampicine, Rimifon, Pyrazinamide và Ethambutol hàng ngày, 1 tháng sau dùng hàng ngày với 4 thuốc Rifampicine, Rimifon, Pyrazinamide và Ethambutol. Giai đoạn duy trì (5 tháng) dùng 3 thuốc Rifampicine, Rimifon, Ethambutol   hàng ngày.

Theo dõi điều trị: Trong quá trình điều trị, bệnh nhân cần được kiểm soát dùng thuốc, đánh giá đáp ứng lâm sàng, X quang, tác dụng phụ của thuốc và cần được xét nghiệm đờm theo dõi:

* Đối với thể lao phổi AFB(+) phải xét nghiệm 3 lần:

Phác đồ 6 tháng: XN đờm vào cuối tháng thứ 2, 5 và 6;

Phác đồ 8 tháng: XN đờm vào cuối tháng thứ 3, 5, 7.

* Đối với thể lao phổi AFB (-): XN đờm 2 lần vào cuối tháng thứ 2 và thứ 5

Corticoide trong điều trị bệnh lao:

Vai trò của corcoticoide trong điều trị bệnh lao vẫn còn có nhiều ý kiến bàn cãi. Corticoide được dùng trong một số trường hợp lao, đặc biệt là thể lao các màng như lao màng não, lao màng phổi, lao màng bụng… thuốc có tác dụng làm giảm viêm, hạn chế di chứng dày dính. Tuy nhiên cần lưu ý chỉ dùng corticoide trong những trường hợp lao mới và đồng thời phải có ít nhất 3 thuốc điều trị lao tấn công kết hợp. Trong thời gian điều trị với corticoide cần theo dõi tác dụng phụ của thuốc như: loét dạ dày tá tràng, hoặc xuất huyết dạ dày, loãng xương, rối loạn nội tiết… Để đạt được hiệu quả điều trị của corticoide thường phải dùng từ 1 tới 2 tháng, giảm liều từ từ hàng tuần. Thường dùng Dexamethasone liều 2 – 3mg/ngày hoặc Prednisolone 20 – 60mg/ngày.

Điều trị triệu chứng:

Ngoài việc dùng thuốc đặc hiệu điều trị nguyên nhân, tùy theo thể bệnh lao chúng ta cần phải điều trị triệu chứng (nếu có) như ho ra máu, khó thở, sốt cao, co giật v.v…

Vệ sinh dinh dưỡng và phục hồi chức năng:

Tùy theo thể bệnh, chúng ta cần cho bệnh nhân tập luyện phục hồi chức năng,… như tập thở cơ hoành, thổi bóng, tập vận động để chống dày dính trong lao màng phổi, hoặc vật lý trị liệu, vận động liệu pháp cho những bệnh nhân di chứng lao màng não v.v…  để bệnh làm quen với hoạt động gắng sức sớm trở về với cuộc sống lao động bình thường.

Mặc dù hiện nay đã có nhiều loại thuốc kháng lao đặc hiệu có thể chữa khỏi bệnh lao, nhưng vai trò của yếu tố cơ địa, chế độ nghỉ ngơi, dinh dưỡng nâng cao sức đề kháng cũng không phải là những yếu tố hoàn toàn không đáng quan tâm, vì nó góp phần tăng cường sức khỏe, nâng cao sức đề kháng giúp cho quá trình khỏi bệnh đạt chất lượng và hiệu quả hơn.

Điều trị ngoại khoa bệnh lao:

Nhờ có thuốc kháng lao, biện pháp điều trị ngoại khoa đối với bệnh lao nhường chỗ cho điều trị nội khoa, mặc dù trên phim X quang vẫn còn hình ảnh tổn thương di chứng nhưng không nhất thiết phải cắt bỏ. Chỉ định phẫu thuật chỉ còn ở một số trường hợp đặc biệt, hoặc chỉ để giải quyết di chứng:

– Dãn phế quản do lao khu trú gây biến chứng ho ra máu tái phát, số lượng nhiều có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng.

– Bội nhiễm nấm trong hang lao điều trị nội khoa không giải quyết được.

– ổ cặn màng phổi, dày dính màng phổi nhiều gây hạn chế hô hấp.

– Lao cột sống có áp xe lạnh, hoặc chèn ép thần kinh gây liệt.

– U lao khu trú >2cm.

+ Điều kiện để một BN lao phổi có thể được điều trị ngoại khoa kết hợp:

  • Tổn thương lao phổi khu trú ở một thùy hay phân thùy.
  • Bệnh nhân đã được điều trị nội khoa ít nhất 3 tháng.
  • Chức năng phổi còn lại bình thường (chịu được cuộc phẫu thuật).
  • Không có nhiễm trùng phụ kèm theo.
  • Thể trạng bệnh nhân chịu được cuộc phẫu thuật.

Kết luận

Ngày nay nhờ có thuốc đặc trị, bệnh lao có thể được điều trị khỏi hoàn toàn. Tuy nhiên kết quả điều trị tốt hay xấu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chẩn đoán sớm hay muộn, phác đồ điều trị, sự hiểu biết và ý thức chấp hành của bệnh nhân (BN) cũng như sự kiểm soát quản lý của chương trình.

Leave a Reply

Web truyện Viêm gan Bệnh gan mật .