Bệnh thận do đái tháo đường

Bệnh thận do đái tháo đường

Dịch tễ học

Khoảng 25% đến 45% số bệnh nhân đái tháo đường (DM) nói chung có bệnh thận trên lâm sàng trong suốt cuộc đời. Bệnh thận do đái tháo đường là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh thận mạn giai đoạn cuối ở Mỹ, và là nguyên nhân chính của mắc bệnh và tử vong ở các bệnh nhân DM (Med Clin North Am 2004;88:1001).

Yếu tố nguy cơ

Albumin niệu vi thể báo hiệu trước protein niệu (>300 mg albumin/ngày) khoảng vài năm ở cả bệnh nhân DM type 1 và 2. Thời gian trung bình từ khi chẩn đoán DM type 1 cho đến khi xuất hiện protein niệu đã tăng lên nhiều và hiện là >25 năm. Thời gian từ khi có protein niệu cho đến bệnh thận giai đoạn cuối cũng đã tăng lên và hiện là >5 năm. Ở bệnh nhân DM type 2, albumin niệu vi thể có thể xuất hiện ngay tại thời điểm chẩn đoán. Kiểm soát đường máu kém là yếu tố nguy cơ chính dẫn đến bệnh thận do DM, nhưng tăng huyết áp và hút thuốc là các yếu tố tham gia vào. Béo phì cũng có thể thúc đẩy tổn thương thận ở DM type 2. Do sử dụng rộng rãi thuốc ức chế men chuyển và thuốc chẹn thụ thể để điều trị tăng huyết áp, nên bệnh nhân có thể bị suy thận mà không có albumin niệu (Diabetes Care 2012;35( suppl 1):S64).

Phòng chống bệnh thận do đái tháo đường

Dự phòng bệnh thận do đái tháo đường phải bắt đầu ngay tại thời điểm chẩn đoán bằng cách đạt mục tiêu đường máu, huyết áp và lipid máu. Bỏ thuốc lá cũng rất quan trọng. Sàng lọc albumin niệu vi thể hàng năm và xét nghiệm creatinine huyết thanh giúp phát hiện các tổn thương sớm và có nguy cơ tiến triển. Cần tiến hành sàng lọc hàng năm ở các bệnh nhân DM type 1 bị bệnh >5 năm và các bệnh nhân DM type 2 ngay tại thời điểm chẩn đoán.
Bệnh lý kèm theo
∙ Các bệnh nhân có protein niệu (albumin /creatinine >300 mg/g) có nguy cơ thiếu máu cao hơn do mất transferrin và giảm sản xuất erythropoietin, và cần được sàng lọc và điều trị ở mọi giai đoạn của tổn thương thận.
∙ Bệnh nhân có bệnh thận mạn có nguy cơ cao hơn bị bệnh tim mạch và tử vong. Vì vậy kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch khác là hết sức quan trọng đối với nhóm bệnh nhân này.
∙ Thiếu vitamin D cần được điều trị, và phải dự phòng và điều trị cường cận giáp thứ phát càng sớm càng tốt.
∙ Bệnh nhân DM có bệnh thận mạn có thể có nguy cơ tăng kali máu và toan chuyển hóa, cần được phát hiện và điều trị sớm.

Chẩn đoán

Test chẩn đoán
Xét nghiệm
∙ Chỉ số microalbumin/creatinine (bình thường <30 mg/g) đối với mẫu nước tiểu bất kỳ được khuyến cáo sử dụng cho sàng lọc. Cần đo ít nhất 2 đến 3 mẫu mỗi 6 tháng để chẩn đoán bệnh thận do đái tháo đường (Diabetes Care 2003;26:S94).
∙ Cần xét nghiệm creatinine và ure huyết thanh hàng năm và tính mức lọc cầu thận. Bệnh nhân DM có thể bị suy thận mà không có albumin trong nước tiểu. Cần xét nghiệm và điều trị các rối loạn kèm theo như thiếu máu, cường cận giáp thứ phát, tăng kali máu và rối loạn thăng bằng kiềm toan khi mức lọc cầu thận <60mL/phút/1,73m2, hoặc bệnh thận mạn giai đoạn 3.

Điều trị

Kiểm soát chặt cả DM và tăng huyết áp là cực kỳ quan trọng để làm giảm tốc độ tiến triển bệnh thận do DM. Mục tiêu huyết áp <130/80 mm Hg được khuyến cáo cho mọi bệnh nhân DM, đặc biệt là bệnh nhân có bệnh thận mạn.
Thuốc
∙ Thuốc ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể được khuyến cáo là thuốc điều trị đầu tay cho các bệnh nhân DM có tăng huyết áp. Những thuốc này đã được chứng minh làm giảm tiến triển của cả bệnh võng mạc và bệnh thận DM và có thể cân nhắc sử dụng cho các bệnh nhân có huyết áp bình thường hoặc tiền tăng huyết áp.
∙ Thuốc lợi tiểu là lựa chọn thứ 2, sau đó là thuốc chẹn kênh calci, thuốc chẹn β và thuốc tác dụng trung ương (Diabetes Care 2004;27:S79).
Thay đổi lối sống/Nguy cơ
∙ Chế độ ăn giảm protein có thể có lợi ở một số bệnh nhân để làm chậm tiến triển bệnh.
∙ Tránh sử dụng các chất gây độc với thận để bảo tồn chức năng thận


Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường

Leave a Reply

mersin escort | www.mersinportal.net