Bệnh quai bị gây biến chứng gì?

Bệnh quai bị gây biến chứng gì?

Quai bị là một bệnh nhiễm virus toàn thân cấp tính đặc trưng bởi sưng tuyến mang tai và các tuyến nước bọt khác do một loại Paramyxovirus gây nên.

Bệnh thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên; bệnh chỉ mắc một lần. Ngoài biểu hiện viêm tuyến nước bọt còn có thể gặp viêm tinh hoàn, viêm tụy, viêm màng não…

Biểu hiện

Có khoảng 1/3 trường hợp nhiễm virus quai bị không có triệu chứng.

– Thời kỳ ủ bệnh: trung bình 18-21 ngày (thay đổi từ 12-25 ngày)

– Thời kỳ khởi phát: trung bình 24 – 36 giờ. Toàn thân: mệt mỏi, chán ăn, đau nhức mình mẩy, sốt nhẹ, viêm họng, đau tai kéo dài vài ngày trước khi sưng tuyến mang tai

– Toàn phát: Bắt đầu sưng tuyến mang tai, sốt giảm (chừng 380C), đau đầu, có thể có các biểu hiện triệu chứng tại các cơ quan khác.

Bệnh quai bị gây biến chứng gì?

Viêm tuyến nước bọt mang tai và các tuyến nước bọt khác

Là biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất ( khoảng 70 % trường hợp ).

Thường đột ngột sau thời kỳ khởi phát, tuyến mang tai sưng đạt tối đa sau 1 – 3 ngày ( có tài liệu: 2 – 6 ngày ) và giảm dần sau 7 – 10 ngày. Đầu tiên chỉ có sưng một bên, sau đó có thể sưng tuyến bên kia.

Sưng cả 2 tuyến chiếm 2/3 trường hợp, một đôi khi kèm sưng tuyến nước bọt dưới hàm và dưới lưỡi.

Tuyến mang tai sưng từ tai đến dưới hàm và lan ra tận gò má, mất rảnh trước và sau tai. Vùng da trên tuyến không nóng và đỏ như trong viêm tuyến mang tai nhiễm trùng, có tính đàn hồi và không để lại đấu ấn ngón tay.

Bệnh nhân có cảm giác đau tai, nhất là khi ăn hoặc uống các thức ăn có vị chua do nghẽn ống Wharton hoặc Stenon. Khám họng thấy miệng các lỗ ống tuyến nước bọt có thể trở nên đỏ, phù nề và có những điểm xuất huyết nhỏ. Có thể sưng các hạch dưới hàm.

Sau 1 tuần tuyến mang tai giảm đau và nhỏ dần, các triệu chứng đau họng, khó nuốt giảm và từ từ khỏi bệnh

Viêm tinh hoàn – mào tinh hoàn

Xảy ra ở 20 – 30% nam giới sau tuổi dậy thì bị quai bị, hiếm gặp ở trẻ nhỏ. Trong số này chỉ có 15-25% xảy ra hai bên; 2/3 trường hợp xảy ra trong tuần lễ đầu.

Toàn thân: Sốt cao 39-41 độ C, ớn lạnh, nôn mửa, đau vùng bìu, đau lan lên bụng và đùi.

Thăm khám: Vùng da bìu đỏ, nóng, tinh hoàn sưng to gấp 3-4 lần bình thường. Các triệu chứng này biến mất sau 1 2 tuần. Gần 85% trường hợp viêm tinh hoàn là viêm mào tinh hoàn. Có 0,5% trường hợp teo tinh hoàn và thường là 1 bên, nếu teo xảy ra ở 2 bên có thể vô sinh hoặc có thể có bất thường về tinh dịch.

Viêm tụy

Gặp ở người lớn và trẻ em. Xảy ra ngày thứ 3-7 sau sưng tuyến mang tai. Bệnh nhân sốt 39-40 độ C, nôn mửa,ì đau thượng vị, bụng có đề kháng nhẹ. Phần lớn trường hợp thường hồi phục hoàn toàn sau một tuần. Hiếm gặp biến chứng sốc hoặc nang giả tuỵ thứ phát.

Viêm tuyến vú và viêm buồng trứng

Xảy ra ở nữ sau tuổi dậy thì:

Viêm tuyến vú (7-30%)

Viêm buồng trứng (5%): Triệu chứng gồm: sốt, nôn mửa, đau bụng đau hố chậu. Khám vùng hố chậu thấy buồng trứng căng, biến chứng vô sinh ít gặp.

Biểu hiện ở các cơ quan thần kinh

Viêm màng não

Gặp ở 5 – 10 % trường hợp quai bị, xảy ra 3-10 ngày sau sưng tuyến mang tai (có khi 2-3 tuần sau). Lâm sàng thường có một hội chứng màng não có sốt. Các triệu chứng này giảm dần sau 3-10 ngày và thường khỏi hòan tòan, không để lại di chứng.

Dịch não tủy có những biến đổi bất thường có thể kéo dài khoảng 1 tháng: Protein bình thường hoặc tăng nhẹ, Glucose bình thường, Tế bào < 500/mm3, đa số là Lympho, có khoảng 20-25% trường hợp có Neutrophile tăng.

Viêm não

Viêm não quai bị ít xảy ra hơn, tần suất 0,5%, nam > nữ, xảy ra 7-10 ngày sau sưng tuyến mang tai hoặc xảy ra cùng lúc. Lâm sàng : hội chứng nhiễm trùng, hội chứng màng não và các dấu hiệu tổn thương não : dấu thần kinh khu trú, lơ mơ, hôn mê hoặc co giật. Bệnh tiến triển có khi rất nặng và để lại di chứng vận động và/hoặc tâm thần, não úng thuỷ, tử vong (1,5% trường hợp).

Các biểu hiện khác

– Viêm cơ tim và màng ngoài tim,

– Viêm khớp, Rối loạn chức năng thận.

– Viêm tuyến giáp bán cấp, tổn thương tuyến ức

– Biểu hiện ở mắt: Viêm tuyến lệ, thần kinh thị giác, màng bồ đào, kết mạc, võng mạc, tắc tĩnh mạch trung tâm thoáng qua

– Tổn thương gan: Ít triệu chứng lâm sàng, thường chỉ rối loạn chức năng gan

– Hô hấp: Viêm thanh khí phế quản, viêm phổi kẽ, thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi

Quai bị ở phụ nữ có thai

Trong 3 tháng đầu của thai kỳ có thể gây sẩy thai, dị dạng bào thai. Còn trong 3 tháng cuối có thể gây chết lưu hoặc đẻ sớm. Khả năng gây quái thai của virus quai bị còn chưa rõ.


Quai bị lây qua đường nào?


Bệnh quai bị gây biến chứng gì?

Leave a Reply