Bạo hành trong y tế

Bạo hành trong y tế

BS. Trần Văn Phúc

Tết cổ truyền vẫn còn in đậm trong những giọt mưa xuân.

Lúc 11 giờ ngày mùng 5 tháng Giêng, anh Lê Hồng Nam đưa vợ là Quách Thị Phương Thảo vào Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Yên Bái, yêu cầu bác sĩ mổ đẻ ngay sau thời điểm đó.

Chưa đầy 40 phút làm công tác chẩn đoán và chuẩn bị, chị Thảo được đưa lên bàn mổ theo đúng yêu cầu của gia đình. Bên ngoài phòng mổ, anh Nam trèo tường và quay phim các bác sĩ phẫu thuật. Bị một nhân viên y tế nhắc nhở, anh Nam dọa bác sĩ mổ xong sẽ bị đánh chết.

Các nhân viên y tế nhợt nhạt và sợ hãi. Một số y tá run rẩy trong nước mắt, những người khác không nói một lời. Nhưng họ vẫn phải vội vã gạt bỏ cảm xúc sang một bên để tập trung mổ cho sản phụ.

Ca mổ vừa kết thúc, Bs Phạm Hải Ninh và Bs Hoàng Đức Trung vừa bước ra khỏi phòng, họ vẫn chưa kịp thay áo, bất ngờ bị anh Nam cùng 15 người khác cầm hung khí lao đến tấn công phủ đầu. Chiếc đèn pin giá rẻ trên tay anh Nam chỉ thành công trong việc tạo nên vết rách khoảng 20 mũi khâu, cả hai bác sĩ cùng nằm gục trên vũng máu.

Không thể giết được các bác sĩ, anh Nam và 15 người khác đã trốn chạy.

Có sự tức giận và buồn. Nhưng ca đẻ mổ đã mẹ tròn con vuông. Điều đó cũng giảm bớt sự lo lắng cho bác sĩ, bởi không biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu như ca mổ có tai biến.

Lãnh đạo tỉnh Yên Bái đã đến thăm hỏi, yêu cầu bệnh viện ổn định tình hình, tích cực điều trị cho hai bác sĩ để sớm quay trở lại công việc. Cơ quan chức năng đang từng bước điều tra để giải quyết dứt điểm.

Bạo lực chống lại bác sĩ đã trở thành những sự kiện quen thuộc.

Đêm 25/12/2017, Bs Đỗ Chính Nghĩa ở Thái Bình bị đánh hộc máu mũi, gãy xương chính mũi và xước giác mạc; với tỉ lệ thương tật 14%. Ngày 20/10/2017, Bs Trần Thị Thanh Hải ở Hà tĩnh bị chém đa chấn thương 17% sức khỏe. Đúng 3 ngày sau, tại Quảng Bình, Bs Trần Thanh Sơn bị đánh rách mi mắt và giác mạc. Tháng 9/2017, Bs Hoàng Thị Minh ở Nghệ An bị đánh túi bụi khi đang cấp cứu cho bệnh nhân. Tháng 7/2017, Bs Nguyễn Văn Long ở Bắc Giang bị người nhà bệnh nhân ném máy đo huyết áp vào mặt phải khâu 5 mũi. Ngày 16/6/2017, Bs Phạm Đình Vinh ở Hà Nội bị hai người nhà hành hung dã man, rồi bắt quỳ xuống xin lỗi nếu không sẽ giết chết cả nhà. Tháng 4/1017, Bs Lê Quang Dương ở Bv Thạch Thất Hà Nội bị bố bệnh nhi ném cốc thủy tinh vào đầu khâu 7 mũi.

Đặc biệt nghiêm trọng là sự việc xảy ra vào tháng 9 năm 2011, Bs Phạm Đức Giàu ở Thái Bình đang cấp cứu bệnh nhân thì bị đâm chết tại chỗ. Đồng nghiệp trẻ của ông là Bs Ngô Duy Hoàn bị đâm trọng thương. Đối tượng gây án ngay trước mắt lực lượng công an với số lượng đông tới 4 xe cảnh sát nhưng vẫn bất lực.

Hàng loạt những vụ hành hung bác sĩ, hành hung nhân viên y tế, đang có xu hướng gia tăng, nên BYT chính thức xếp đây là một trong 10 sự kiện y tế nổi bật trong năm 2017. Bộ đã tổ chức hẳn một hội nghị lớn để bàn về vấn đề này.

Chân dung những kẻ hành hung bác sĩ được truyền thông mô tả, đó hoàn toàn không phải là những kẻ điên loạn, cũng không phải là người có tiền sử bạo lực, họ là những sản phẩm của một xã hội thất bại; mà cái chết của Bs Phạm Đức Giàu cho đến vụ việc hai bác sĩ Bv Sản Nhi Yên Bái bị đánh trọng thương, đã tượng trưng cho sự sụp đổ của mối quan hệ Bác sĩ – Bệnh nhân. Nó là hệ quả của một sự rối loạn cơ bản trong quản lí xã hội và hệ thống y tế ở Việt Nam.

Vậy: từ khi nào xuất hiện cuộc khủng hoảng mối quan hệ Bác sĩ – Bệnh nhân?

Khoảng 2500 năm trước, danh y Biển Thước với khả năng nhìn thấy bệnh tật trong cơ thể con người thông qua tứ chẩn, ông được coi là người đặt những viên gạch đầu tiên cho nền Y học Cổ truyền Trung Quốc. Nhưng ở thời đại của mình, Biển Thước đã bị đánh giá thấp khi vua Tề nghi ngờ ông lừa gạt để kiếm tiền.

Cũng thời điểm ấy, ở phương Tây, ông tổ nghề y Hippocrates đã từng đưa ra lời khuyên “Bác sĩ nên từ chối điều trị cho bệnh nhân khi biết họ đang hoặc sẽ có những việc làm có thể vô hiệu hóa, chế ngự hay khuất phục bác sĩ”.

Lịch sử thế giới cũng ghi nhận, không ít lần các danh y đã bỏ rơi bệnh nhân, như câu chuyện đặc biệt của 3 vị hoàng đế thuộc đế quốc Hy Lạp cổ đại. Liệu có áp lực gì đó từ các vị hoàng đế lên chính các thầy thuốc, để họ không dám nhận điều trị và bỏ mặc các vị hoàng đế của mình cho đến chết?

Từ Biển Thước ở phương Đông cho đến Hippocrates ở phương Tây, hay những những thầy thuốc đương thời, đó có thể coi là những trường hợp sớm nhất về sự khủng hoảng mối quan hệ giữa thầy thuốc với người bệnh.

Đến thế kỉ thứ 2 sau công nguyên, Hoa Đà là thầy thuốc phẫu thuật nổi tiếng, ông đề nghị cắt bỏ khối u trong đầu Tào Tháo, nên đã bị chính Tào Tháo nghi ngờ phản tặc mà hành quyết. Cái chết của Hoa Đà đánh dấu trường hợp bạo lực y tế sớm nhất, chính người bệnh ra tay giết hại thầy thuốc.

Việt Nam có hệ văn hóa tương đồng với Trung Quốc, ảnh hưởng của Nho giáo và Đạo Khổng, mặc dù nền y học cổ truyền phát triển phong phú, nhưng tính chuyên nghiệp lại không cao; do hệ thống Hán học cả ở Trung Quốc và Việt Nam đều không có trường chuyên đào tạo y học.

Thực tế trong xã hội phong kiến Việt Nam, số người học chữ Hán – Nôm rất ít, đó là những nhà Nho chiếm không quá 5% số đàn ông, hầu hết phụ nữ không được học chữ và nếu có học thì không viết.

Y học trong các sách Hán – Nôm có tính học thuật cao, nhưng lại nằm trong chuỗi logic Nho – Y – Lí – Số. Tất cả những ai biết đọc sách thánh hiền, họ sẽ hiểu được thuyết âm – dương, ngũ hành; có thể đọc sách y để tự chăm sóc bản thân và gia đình, hay trở thành các thầy thuốc đông y. Đó chính là lí do để ngay cả những bậc danh y kì tài, nếu họ chỉ chuyên tâm với y thuật, thì sẽ không có được vị trí cao trong xã hội. Sự nghiệp giản dị của danh y Tuệ Tĩnh, hay cuộc sống ẩn dật của Hải Thượng Lãn ông Lê Hữu Trác, đó là những ví dụ rất điển hình.

Ngược lại, y học cổ truyền dân gian có tính phổ biến đại chúng hơn, nó dựa trên những kinh nghiệm lâu đời, được lưu truyền trong các gia đình, với những bài thuốc hay phép chữa đơn giản, nhiều khi chữa mẹo là chính. Y học dân gian cổ truyền, đã phục vụ cho số đông người Việt, nó luôn có sự đan xen với đời sống xã hội; được xếp ở tầng thấp, dễ tiếp cận, chỉ đơn giản là sự sẻ chia kinh nghiệm, nên không nảy sinh những mâu thuẫn gay gắt, không có sự xung đột giữa thầy thuốc với bệnh nhân, nên không bao giờ xảy ra bạo hành y tế.

Y học hiện đại phương Tây, phát triển mạnh mẽ từ thế kỉ 19 ở châu Âu và Bắc Mỹ, nhưng lại du nhập vào Á Đông khá muộn mằn. Nhưng so với các quốc gia Đông Nam Á, thậm chí với cả Trung Quốc, thì y học hiện đại của Việt Nam đã có sớm hơn nhiều và gặt hái được những thành tựu vượt trội so với những quốc gia này.

Người Pháp nửa cuối thế kỉ 19, ngay sau khi chiếm được thành Hà Nội, Toàn quyền Đông Dương Armand Rousseau đã cho xây dựng tại Việt Nam hàng loạt các cơ sở y tế đầu tiên cho toàn xứ Đông Dương, khởi đầu là việc trưng dụng nhà thờ Saint Paul làm nhà thương bảo hộ, do các bác sĩ người Pháp cùng các nữ tu sĩ đảm nhiệm.

Năm 1886, tướng Bégin đã đề xuất ý tưởng với Chính phủ Pháp, cần thiết xây dựng một trường y khoa tại Sài Gòn để đào tạo các bác sĩ người bản xứ. Nhưng có lẽ thời kì này, do liên bang Đông Dương thuộc Pháp đang xúc tiến hình thành (1887), nên ý tưởng của tướng Bégin đã bị hoãn lại.

Năm 1897, Paul Doumer sang thay Armand Rousseau làm Toàn quyền Đông Dương, ngay lập tức ông cho thành lập Hội đồng Tư vấn tối cao Đông Dương do bác sĩ Henaff đứng đầu, để xúc tiến xây dựng một trường đại học y tại Hà Nội.

Sau 4 năm khảo sát kĩ lưỡng và xây dựng kế hoạch, ngày mùng 8 tháng Giêng năm 1902, Toàn quyền Paul Doumer đã kí Quyết định xây dựng Trường Y Hà Nội, sau đổi tên thành Trường Y Đông Dương, với hai nhiệm vụ là đào tạo thầy thuốc và nghiên cứu khoa học.

Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp lúc đó là Decrais, ông yêu cầu Hiệu trưởng Đại học Y khoa Paris phải giới thiệu người không quá trẻ, đủ uy tín khoa học để làm Hiệu trưởng Trường Y Đông Dương. Alexandre Yersin, một nhà khoa học nổi tiếng gốc Thụy Sĩ, 39 tuổi, học trò của Louis Pasteur đã được bổ nhiệm chính thức. Yersin là người đã tìm ra vi khuẩn dịch hạch trong một đại dịch tại Hồng Kông năm 1894.

Alexandre Yersin xác định rõ mục tiêu: Trường Y Đông Dương phải là nơi vừa đào tạo, vừa nghiên cứu khoa học, tiến tới trở thành một trung tâm khoa học có tầm cỡ thế giới.

Với mục tiêu ấy, Yersin đề xuất, chức danh Hiệu trưởng phải do Tổng thống CH Pháp bổ nhiệm, với sự giới thiệu của Hiệu trưởng Đại học Y Paris hoặc Giám đốc Viện Pasteur Paris; các giáo sư giảng dạy cũng phải do Tổng thống CH Pháp bổ nhiệm với sự giới thiệu của Hiệu trưởng Trường Y Đông Dương. Sinh viên có thể học 2 năm nội trú tại Trường Y Đông Dương hay tại Pháp, thi và bảo vệ tốt nghiệp tại Pháp bằng luận văn, là những công trình nghiên cứu khoa học về bệnh tật của người Việt. Bằng tốt nghiệp y khoa phải có 3 chữ kí, một của Toàn quyền Đông dương, một của Thống sứ, một của Hiệu trưởng Trường Y Đông Dương.

Mục đích của Yersin là đảm bảo Trường Y Đông Dương có quy chế tương đương với Đại học Y Paris ở chính nước Pháp. Đây là tầm nhìn vĩ đại, chỉ tiếc do ý đồ cá nhân, Toàn quyền Doumer đã đồng ý tất cả, trừ quyết định bổ nhiệm thay vì Tổng thống Pháp thì lại chuyển quền đó sang cho Doumer.

Kì thi tuyển sinh Trường Y Đông Dương khóa đầu tiên, được tổ chức ngay trong tháng 1/1902, có tất cả 121 thí sinh tham dự, trúng tuyển 29 người, trong đó Hà Nội có 7 người đều đạt xuất sắc. Đội ngũ giáo sư giảng dạy đều là người Pháp do Hiệu trưởng Đại học Y Paris hoặc Giám đốc Viện Pasteur Paris tiến cử, nhưng phải trải qua kì thi tuyển chọn sang Đông Dương rất khó khăn.

Trong báo cáo hoạt động của Trường Y Đông Dương ngày 15/12/1906, thanh tra Clavel viết: “Đề nghị gửi những sinh viên xuất sắc nhất của Trường Y Đông Dương sang Pháp thi bác sĩ và thử sức so sánh với các sinh viên Pháp. Chắc chắn sinh viên người Việt sẽ làm nên chuyện và Trường Y Đông Dương sẽ không phải xấu hổ”.

Khóa học đầu tiên có 29 sinh viên, sau một năm bị loại 14 sinh viên, đến khi tốt nghiệp ra trường vào cuối năm 1907 chỉ còn đúng 5 sinh viên. Điều đó chứng tỏ Trường Y Đông Dương rất chú trọng nguyên tắc thắt chặt đầu ra, mô hình giống như hiện nay ở các nước phát triển đang áp dụng.

Với trên 90% dân số mù chữ, nhưng bằng những nỗ lực không mệt mỏi, Trường Y Đông Dương đã nhanh chóng đào tạo được đội ngũ bác sĩ, rồi đào tạo đến tiến sĩ y khoa, đó là những người có trình độ chuyên môn và phương pháp luận khoa học rất vững vàng, ngang tầm với các bác sĩ ở Pháp.

Trước năm 1930, hầu hết các bác sĩ làm việc trong bệnh viện đều là người Pháp. Nhưng sau năm 1930, trưởng các khoa lâm sàng ở bệnh viện đều do bác sĩ Việt Nam đảm nhiệm. Năm 1943, Trường Y Đông Dương có đội ngũ cán bộ khung được xây dựng đầy đủ và hoàn thiện, trưởng các bộ môn vẫn do các giáo sư người Pháp được Đại học Y Paris đề xuất, cán bộ giảng dạy đã có nhiều thầy xuất sắc người Việt.

Hệ thống y tế Việt Nam trước năm 1945 rất được coi trọng, bác sĩ được gọi là quan đốc, thậm chí gọi là cụ với những người có tuổi; lương rất cao, có thể nuôi được cả họ với cuộc sống phong lưu. Ví dụ, lương khởi điểm của giáo sư người Pháp khoảng 71,000 Francs, tương đương với 170 lạng vàng. Lương khởi điểm của bác sĩ người Việt khoảng 49.000 Francs, mua được 120 lạng vàng.

Chính phủ Pháp rất cẩn trọng trong việc cử các bác sĩ sang Việt Nam giảng dạy và thực hành khám chữa bệnh. Các giáo sư phải được sự giới thiệu của Hiệu trưởng Đại học Y Paris hay Giám đốc Viện Pasteur Paris, đồng thời phải qua kì thi tuyển bác sĩ Đông Dương. Hàng loạt các giáo sư bác sĩ đã đến Việt Nam qua các kì thi tuyển ấy, như giáo sư Le Roy dé Barres, Henri Galliard, Henri Coppin, Naudin, Lucas Championnère, Cartoux, Huard, Meyer May, Mongtagné, Sollier, Massias, Daléas, Blondel, Polidori, Keller, Cousin, Grenierboley, Rivoalen, Joyeux, Bonnet, Duga, Noyer, Capus, Degorce, Deraymond…

Kì thi tuyển bác sĩ Đông Dương năm 1931, chỉ có 3 người đạt tiêu chuẩn là Gs Hồ Đắc Di, Gs Huard và Gs Cartoux. Có những người sang trước và sau đó, nhưng khi làm việc chưa đạt tiêu chuẩn lại phải về Pháp học tập thêm và thi lại.

Gs Hồ Đắc Di du học ở Pháp từ năm 1918, nhờ sự bảo trợ của Toàn quyền Albert Sarraut. Sau khi tốt nghiệp nội trú Pháp, giáo sư về Việt Nam. Ban đầu giáo sư làm việc ở Huế, nhưng sau đó Gs Le Roy dé Barres lúc ấy đang là Hiệu trưởng Trương Y Đông Dương và Giám đốc Bệnh viện Bảo hộ, ông đưa Gs Hồ Đắc Di về Hà Nội để sau này kế tục làm Hiệu trưởng Trường Y Đông Dương.

Những bác sĩ người Pháp cũng như người Việt ở thời kì này, họ thực hành khám chữa bệnh đúng với lời thề Hippocrates, hết lòng thương yêu đồng nghiệp và bệnh nhân. Trong quá trình khám bệnh, nhiều người không có bệnh tật, chỉ bị suy kiệt vì đói rét, nhưng vẫn được nhận vào viện chăm sóc. Gs Naudin luôn nhắc nhở sinh viên và bác sĩ người Việt, rằng người dân trông bề ngoài khỏe mạnh nhưng luôn ẩn chứa những mầm bệnh bên trong, bác sĩ phải hết sức cẩn trọng để phát hiện sớm những căn bệnh.

Gs Championnère có chuyên môn ngoại khoa rất giỏi, nhưng khi khám bệnh cực kì cẩn thận và tỉ mỉ, chẩn đoán luôn chính xác, giảng dạy cho sinh viên rất chi tiết. Khi Gs Championnère mất tại Hà Nội, tất cả các bác sĩ và sinh viên người Việt đều khóc vì tiếc thương, Chính phủ Pháp đã rất ngạc nhiên về điều này.

Như vậy, trong nửa đầu thế kỉ 20, nền y học hiện đại tính từ năm 1902 – 1945, đã được đầu tư một cách bài bản và chuẩn mực, tạo nên những thế hệ bác sĩ người Việt có đủ tài và đức trong cả lĩnh vực khám chữa bệnh lẫn nghiên cứu khoa học. Các giáo sư từ Đại học Y Paris sang giảng dạy cũng như chấm các luận án hay công trình nghiên cứu khoa học, họ đều rất ngạc nhiên và đánh giá cao trình độ của sinh viên và bác sĩ người Việt. Giáo sư Lemaitre đã phải gọi Trường Y Đông Dương và nền y học hiện đại Việt Nam là “Cái ăng ten của nền khoa học Pháp tại xứ Viễn Đông”.

Ngay sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, Chính phủ VNDC Cộng hòa chính thức đảm nhiệm công việc đào tạo và chăm sóc sức khỏe. Sau 2 tháng chuẩn bị, ngày 15/11/1945, lễ khai giảng đầu tiên của chính quyền mới được tổ chức long trọng, với sự có mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều vị bộ trưởng. Trong lễ khai giảng, Hồ Chí Minh đã trực tiếp trao bằng tốt nghiệp cho 26 tân bác sĩ, cùng với lời dặn dò “Hãy vì Tổ quốc, vì đồng bào mà làm việc quên mình”.

Toàn bộ khung chương trình và nội dung các môn học vẫn giữ nguyên từ thời Pháp. Các thầy dù là người Việt nhưng lại rất khó khăn trong việc dùng tiếng Việt để giảng bài. Vì thế mà sách giáo khoa cũng như giảng lí thuyết và giảng lâm sàng, các thầy toàn bộ dùng tiếng Pháp, chỉ khi hỏi bệnh mới dùng đến tiếng Việt.

Giáo sư Đặng Văn Chung trong 3 năm cuối đời, từ 1997 – 1999, mỗi tuần giáo sư giảng lâm sàng một buổi vào thứ 4 ở Bv Bạch Mai, phải có 2 giáo sư phiên dịch. Lí do là Gs Đặng Văn Chung khi giảng chỉ nói bằng 4 thứ tiếng (Pháp – Anh – Đức – Nga), rất khó khăn để diễn đạt được bằng tiếng Việt cho các bác sĩ và sinh viên.

Với quyết tâm Việt hóa chương trình giảng dạy, trên chiến khu Việt Bắc, Gs Đỗ Xuân Hợp là người đầu tiên dịch tài liệu giải phẫu, viết thành cuốn sách Giải phẫu định khu nổi tiếng, trở thành sách gối đầu giường của tất cả sinh viên và bác sĩ.

Trong một lần dịch sách, Gs Đỗ Xuân Hợp cầm trên tay 2 chiếc xương ống chân, nhưng bí quá không nghĩ ra chữ gì. Rất may lúc ấy, vợ giáo sư đang giã cua, thấy cái xương giống chiếc chày, nên gợi ý cho giáo sư. Cái tên xương chày và xương mác có nguồn gốc từ sự gợi ý ấy.

Chương trình đào tạo y khoa thời chiến có nhiều sự biến hóa, giảng viên và sinh viên “đi chiến dịch – về tổng kết – đi chiến dịch”, sinh viên Y4 đã có thể mổ trung phẫu đến đại phẫu, sinh viên Y6 mổ đại phẫu và những ca phức tạp. Có nhiều chức vụ cao mà sinh viên y phụ trách, như trưởng ban quân y đại đoàn, bệnh viện trưởng, đội trưởng đội điều trị đại đoàn. Quân y cấp trung đoàn chủ yếu được giao cho các sinh viên Y4 phụ trách mà chưa cần đến bác sĩ.

Chiến tranh là trường đại học y khoa lớn nhất với bác sĩ và sinh viên, nó giúp hệ thống y tế sản sinh ra những nhân tài. Thưc tế bắt đầu từ năm 1943, Hà Nội và một số tỉnh thành đã bị máy bay của phe đồng minh oanh kích. Khi quân Nhật vào Đông Dương, xuất hiện những cuộc đối đầu qui mô nhỏ với quân Pháp, bắt đầu xuất hiện vết thương do đạn bắn thẳng. Việc cứu chữa các vết thương chiến tranh, đối với các giáo sư bác sĩ khi đó, đang còn là một điều hoàn toàn mới lạ.

Bác sĩ Tôn Thất Tùng ngày ấy là một bác sĩ trẻ tuổi, nhưng lại rất có tài về chuyên môn, có khả năng tổ chức cứu chữa vết thương chiến tranh rất tốt, nên được phân công giữ vị trí quan trọng, đặc biệt là cứu chữa những nạn nhân người Pháp.

Chính Bs Tôn Thất Tùng và các đồng nghiệp người Việt đã xây dựng quy trình cứu chữa nạn nhân chiến tranh, như chọn lọc và phân loại vết thương, tổ chức sơ cứu ban đầu, chống choáng, vận chuyển bệnh nhân, triển khai phẫu thuật, phân loại ưu tiên phẫu thuật trước sau. Đây là những bài học quý báu, đặc biệt là khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, các bác sĩ người Việt đã rút ra được những bài học xương máu.

Thời kì khó khăn nhất là kháng chiến chống Mỹ. Hãy thử tưởng tượng, những năm tháng chiến tranh, dưới làn mưa bom bão đạn, y tế Việt Nam chẳng khác gì thời kì nguyên thủy. Điều gì sẽ xảy ra khi các bệnh viện không đảm bảo điều kiện vệ sinh, không có phòng mổ đảm bảo vô trùng, không có đủ thuốc Penicilline, không đủ bình dưỡng khí, không đủ đường truyền tĩnh mạch? Cuộc chiến nào cũng vậy, sẽ không thể giành thắng lợi nếu như y tế thất bại. Y tế Việt Nam mặc dù rất khó khăn về kinh phí, nhưng đã sản sinh ra không chỉ những cá nhân kiệt xuất, mà còn có cả một đội ngũ đông đảo y bác sĩ với tay nghề rất vững vàng, rải đều ởmọi tuyến.

Chỉ cần nhìn vào vài con số thống kê biết nói, sẽ thấy ngay được thành tựu mà bất cứ nền y học tiên tiến nào cũng phải ngạc nhiên. Trong 9 tháng của cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 (từ 6/4/1972 – 15/1/1973), riêng Y tế Thủ đô đã mổ cấp cứu cho 1609 nạn nhân, trong khi tỉ lệ tử vong bệnh viện chỉ 1,33%.

Đi qua chiến tranh, đến thời kì bao cấp, dù kinh tế lao đao, nhưng y tế vẫn phục vụ người bệnh vô điều kiện. Có những bác sĩ tốt nghiệp bằng đỏ ĐHY Hà Nội, nhưng vẫn tình nguyện về các bệnh viện huyện để mổ cho bà con. Khi bệnh viện huyện cũng mổ được sỏi mật, cũng cắt được ung thư dạ dày và đại tràng, thì sự chênh lệch chuyên môn giữa các tuyến không quá xa nhau, trình độ tay nghề giữa các bác sĩ không tồn tại khoảng cách quá lớn.

Ở thời kì này, sự tương tác giữa bác sĩ và người bệnh dựa trên nền tảng tình cảm. Hãy hình dung trong các làng quê nghèo khắp đất nước, người dân chủ yếu chữa thuốc nam, rất ít cơ hội tiếp cận với bác sĩ. Bệnh viện, ở đâu cũng thế, sẽ là nơi thiêng liêng xếp vào bậc nhất. Hầu hết con người đều mong muốn được sinh ra nhờ bàn tay của nhân viên y tế, khi ốm đau hay tai nạn thì bệnh viện sẽ là nơi để họ tìm đến, có người chọn bệnh viện để chết khi về già.

Từ khi ra đời năm 1902 cho đến trước đêm đổi mới 1986, trong con mắt toàn xã hội, thì bác sĩ được người dân nhìn nhận như những bậc trí thức lớn, có địa vị cao và rất đáng kính trọng. Nhìn lại quá khứ, thì trong các giao điểm cuộc sống, với người bệnh là sự thân mật, còn với bệnh viện là những đức tính phi thường của người thầy thuốc, mà ngay ở những hoàn cảnh sống khó khăn nhất như thời kì bao cấp, thì tiền bạc cũng chỉ đóng vai trò thứ yếu.

Vậy điều gì đã làm cho mối quan hệ giữa Thầy thuốc – Bệnh nhân trở nên khủng hoảng?

Nguyên nhân đầu tiên phải nói đến, có lẽ là chất lượng giáo dục của cả hệ thống, mà giáo dục y tế nằm trong dòng chảy không thể bơi ngược lại.

Có một sự thực, là ngay sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, ở các vùng tự do, đã có nhiều những chính sách cải cách giáo dục. Một trong những chính sách đó, là cắt giảm các môn học ngoại ngữ. Ban đầu là giảm về số giờ dạy, sau đó là ngừng không dạy, thầy ngoại ngữ không được coi trọng.

Đến năm 1953, ngoại ngữ chính thức bỏ hẳn ở hệ phổ thông. Sinh viên trường y những khóa sau đó, được các thầy khuyên cố gắng đọc sách tiếng Pháp để tham khảo, nhưng họ đều bó tay. Cho đến tận hôm nay, bất cứ ai thực hành khám chữa bệnh đều hiểu, nếu chỉ học kiến thức y khoa bằng tiếng Việt, chỉ đọc sách tiếng Việt, thì người bác sĩ không thể có kiến thức chuyên môn giỏi.

Trường Đại học Y Hà Nội ở thời điểm năm 1953, chỉ có Gs Đỗ Xuân Hợp là đủ vốn liếng tiếng Việt để giảng bài, vì giáo sư có nhiều năm chuẩn bị trước đó. Trong khả năng của mình, Gs Đỗ Xuân Hợp đã tổ chức những buổi giảng thử bằng tiếng Việt, mời các đồng nghiệp cùng nghe, góp ý và trao đổi kinh nghiệm.

Hệ thống giáo dục y tế, cả trong thời kì chiến tranh lẫn hòa bình, mặc dù các thầy rất muốn thực hiện một chương trình giáo dục y khoa chính quy, đầy đủ, ngang tầm thế giới; nhưng điều đó thật khó. Giai đoạn chuyển tiếp, là vào cuối những năm 60, Liên Xô đã tham gia giúp đỡ toàn diện cho hệ thống y tế, thông qua Hai Văn kiện Mát-x-cơ-va.

Từ năm 1958 – 1960, hệ thống y tế và giáo dục y tế thực hiện chỉnh huấn nhiều đợt. Xác định vai trò Đảng lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện. Xác định đường lối tuyển chọn công nhân và nông dân đi vào ngành y. Xác định dùng lao động công nghiệp và nông nghiệp để giáo dục tư tưởng y bác sĩ.

Từ năm 1960 – 1964, để phục vụ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của Đại hội Đảng III, nhằm đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh lên CNXH, các chuyên gia Liên Xô đã giúp đỡ soạn thảo chương trình đào tạo bác sĩ 4 năm rồi đưa về các vùng nông thôn. Bộ Y tế khi đó chỉ thị, phải nhanh chóng và dễ nhất cấp bằng bác sĩ cho tất cả các y sĩ cao cấp, bổ túc 2 năm cho các y sĩ trung cấp rồi trao bằng bác sĩ, mở một loạt các trường trung cấp học 2 năm ở các tỉnh, nâng cấp một loạt trường lên đại học, công tác tuyển sinh từ trung cấp đến đại học phải tăng gấp bội đảm bảo đúng chỉ tiêu cấp trên giao, tăng cường đào tạo hệ chuyên tu và tại chức.

Trường ĐHY Hà Nội nhận chỉ thị năm 1960, phải tuyển sinh 340 sinh viên, nhưng nhiều trong số đó là y tá mà khi học phổ thông chỉ qua cấp 2 có bổ túc thêm ba môn toán – lí – hóa. Đến năm 1964, số sinh viên này quá kém về chất lượng, không thể đảm đương nổi công việc, nên chương trình của Liên Xô giúp đỡ bị phá sản, phải sửa chữa lại rất mất thời gian.

Cuộc tiến công chiến lược giải phóng miền Nam, khởi đầu vào mùa xuân năm 1975, ban đầu Bộ Chính trị dự kiến kéo dài 2 năm, kết thúc năm 1976, nhưng cũng có thể kéo dài thêm đến 3 năm. Y tế với vai trò then chốt làm nên chiến thắng, lại một lần nữa xác định cần đào tạo gấp bác sĩ cung cấp cho chiến trường. Hàng loạt y tá được đôn lên học cấp tốc 6 tháng rồi cấp bằng bác sĩ. Nhưng sau chiến dịch Tây Nguyên tháng 3 năm 1975, nhận thấy thời cơ đã đến, Bộ Chính trị quyết định chuyển hướng thành Tổng tiến công chiến lược. Ngày 30/4/1975 miền Nam giải phóng, nên có hàng loạt bác sĩ chỉ học 3 tháng đã được cấp bằng.

Chiến tranh kết thúc, nhưng hệ đào tạo chuyên tu, tại chức, hay hàm thụ đại học thì vẫn tiếp tục, còn có xu hướng gia tăng. Những y tá được ưu tiên đi học chuyên tu tại chức, họ đều là những đảng viên, là những người có mối quan hệ với lãnh đạo được cử đi. Rõ ràng, theo tiêu chuẩn bác sĩ phương Tây, thì hệ chuyên tu tại chức chỉ là những bác sĩ nghiệp dư, nhưng họ cũng giúp cho người dân có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ y tế cơ bản.

Không thể phủ nhận có những bác sĩ chuyên tu, tại chức, hay hàm thụ đại học nhưng trình độ chuyên môn rất giỏi. Đã có bác sĩ trở thành giáo sư đầu ngành, họ không chỉ xây dựng được uy tín ở trong nước, mà còn được quốc tế nể trọng.

Nhưng sự thật, càng ngày càng có nhiều bác sĩ chuyên tu tại chức không biết gì về y thuật, thậm chí là hầu hết họ đều như thế. Tồi tệ hơn là những bác sĩ này thường chẩn đoán sai và điều trị bệnh nhân chỉ nặng lên, thậm chí là tử vong do chính lỗi của họ gây ra. Tuy nhiên, nếu tính từ trước đêm đổi mới trở lại, thì những bác sĩ ấy vẫn được bệnh nhân tôn trọng, bởi cuộc sống của con người trong thời kì bao cấp đang phải chiến đấu để có được miếng cơm manh áo, nên vấn đề sức khỏe không phải là yếu tố quan tâm của họ.

khi bác sĩ Lương đi tù

Thời kì mở cửa mọi chuyện trở nên khác.

Thông thường, các y tá đi học hàm thụ, chuyên tu, hay tại chức, họ là những đáng viên, nên khi trở về là bác sĩ, thì họ sẽ được giữ các chức vụ lãnh đạo. Không ít các sở y tế của tỉnh, mà đa số cán bộ là đối tượng bác sĩ này. Một số y tá chọn con đường tiến thân, là vào Đảng rồi xin đi học chuyên tu, ra trường làm cán bộ huyện một thời gian, rồi nhận điều động về làm giám đốc hay phó giám đốc các bệnh viện hay trung tâm y tế huyện. Và cứ thế, hệ thống y tế, đặc biệt là y tế tuyến cơ sở càng ngày càng yếu kém bởi những vị lãnh đạo như thế.

Ở bệnh viện huyện và trung tâm y tế hiện nay, đa số chuyên môn lại rất yếu, do nhiều nguyên nhân, mà nguyên nhân chính là suốt một thời gian dài các bác sĩ chuyên tu tại chức kéo thụt lùi sự phát triển của cả hệ thống. Có bệnh viện huyện ở thời điểm hiện tại, 37 bác sĩ thì 35 người tốt nghiệp chuyên tu. Vì thế mà người bệnh mất lòng tin, họ chỉ đến bệnh viện huyện để chuyển BHYT, số lượng bệnh nhân khám và điều trị rất vắng. Ở những bệnh viện này, mâu thuẫn giữa Bác sĩ – Bệnh nhân dần dần xuất hiện, đến nay trở thành phổ biến, bệnh nhân cứ vào bệnh viện huyện là chửi và đánh bác sĩ.

Ngược lại, các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến trung ương, tình trạng quá tải ngày càng trở nên trầm trọng. Mỗi bác sĩ, ngày làm việc 8 tiếng đồng hồ, khám cho hàng trăm bệnh nhân, mỗi bệnh nhân chỉ khoảng 3 phút. Hệ quả là, bệnh nhân bị ùn ứ, rồi bị đẩy đi, đông đến nỗi phải tranh nhau để đến lượt, xô cửa vào phòng thay vì gõ cửa chờ đợi. Mâu thuẫn gữa Thầy thuốc – Bệnh nhân cũng xuất hiện từ nguyên nhân quá tải.

Để khắc phục tình trạng yếu kém ở tuyến dưới và giảm tải cho tuyến trên, hàng loạt chính sách được ban hành, như xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư mua sắm trang thiết bị, cử các bác sĩ giỏi đi luân phiên về tuyến dưới, nâng cao kĩ năng giao tiếp cho cán bộ nhân viên. Thực tế, đó chỉ là cách giải quyết phần ngọn, thậm chí là tiếp tay cho tham nhũng, ví dụ như chiếc máy giá khoảng 2 tỉ, nhưng đề án sẽ đẩy lên tới 5 tỉ để rút tiền ngân sách ra chia chác, chưa kể máy kém chát lượng, nên không có hiệu quả. Các vụ bạo lực y tế ở tuyến cơ sở càng ngày càng gia tăng, nó phản ánh sự thất bại của những cải cách, bệnh nhân gây áp lực với bác sĩ vì họ mong đợi được chuyển lên tuyến trên để hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất.

Đại hội Đảng VI, năm 1986, đất nước xóa bỏ bao cấp, kinh tế bắt đầu mở cửa. Nhưng hệ thống y tế vẫn duy trì chế độ bao cấp, nhà nước chịu trách nhiệm chăm sóc y tế, bác sĩ được trả lương rất thấp nên họ bắt đầu tìm cách nhận hối lộ. Món quà mà bác sĩ nam nhận được chủ yếu là bao thuốc lá ba số 5, bác sĩ nữ là những chiếc khăn, họ mang ra bán lại tại cổng viện; rồi cứ thế quay vòng. Hàng chục năm biếu thuốc lá và khăn mặt, cho đến tận cuối thập kỉ 90, thì người bệnh mới biết đút tiền vào những chiếc phong bì. Quan hệ Thầy thuốc – Bệnh nhân, cũng bắt đầu rạn nứt, mà nguyên nhân cũng một phần từ những chiếc phong bì ấy.

Còn có một sai lầm nữa, là hệ thông viện phí BHYT của chúng ta, nhiều năm qua duy trì dịch vụ giá rẻ, cách điều hành BHYT lại rất dễ gây thất thoát và trục lợi. BHYT là tiến bộ xã hội, nhưng nếu nó làm không đúng cách, thì cũng là một gánh nặng, là nguyên nhân khoét sâu hố ngăn cách giữa thầy thuốc và bệnh nhân. Y tế khác hẳn với quy luật kinh tế thị trường, khi dịch vụ chăm sóc sức khỏe chạy theo giá rẻ, thì người bệnh chỉ mua được thật nhiều những rủi ro.

Nhìn từ góc độ xã hội, không có gì ngạc nhiên khi bác sĩ phải đối mặt với sự thù nghịch từ người dân. Có rất nhiều lí do, nhưng 2 lí do dễ nhận thấy nhất là truyền thông dư luận xã hội và pháp luật.

Trước hết là truyền thông, suốt nhiều năm dẫn dắt dư luận theo hướng suy nghĩ “không có lửa làm sao có khói”, trong khi tỏ ra thông cảm với những kẻ hành hung bác sĩ. Thời gian trước đây, tràn ngập trên mặt báo chí là những câu chuyện tiêu cực về ngành y, đến nỗi nó ám thị cả những nhà lãnh đạo cao cấp, họ mặc định trong suy nghĩ rằng bác sĩ là xấu xí. Hầu như với mọi người dân Việt, họ đều có sẵn những câu chuyện về bác sĩ kém chuyên môn, không có y đức, vòi vĩnh và tham lam. Đã có những thời điểm, cả xã hội giận dữ, chỉ chờ một vụ việc xảy ra là trút tất cả nỗi căm hận lên đầu toàn hệ thống. Không có gì nguy hiểm bằng một bác sĩ bị đánh đập dã man, thì cả xã hội đổ xô vào cổ vũ cho hành động giết người; và nền báo chí như thế liệu có phải đã tiếp tay cho những hành động giết người ấy?

Thứ hai là pháp luật, đến nay vẫn chỉ coi bạo hành y tế giống như những cuộc đôi co ngoài đường phố, nếu bác sĩ bị đánh đập với tổn thương sức khỏe dưới 11% thì hai bên giải quyết dân sự. Điều đó khác hẳn với các nước văn minh, họ coi bác sĩ là tài sản quốc gia bất khả xâm phạm, nên pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm bác sĩ, từ lời nói cho đến đánh đập bác sĩ chắc chắn sẽ bị truy tố.

Vụ việc 2 bác sĩ ở Bv Sản Nhi tỉnh Yên Bái đã qua 6 ngày, nhưng cơ quan công an vẫn đang đi tìm đối tượng để điều tra, thay vì phải truy bắt càng nhanh càng tốt vì đó là một vụ trọng án. Điều đó không chỉ phản ánh sự bất lực của một chính quyền, mà còn cho thấy sự cô đơn của các y bác sĩ trước các đối tượng côn đồ. Và hệ thống y tế, sẽ phải tiếp tục vận hành trong nỗi sợ hãi, mà hành động đánh bác sĩ đầu năm mới là một lời cảnh báo, rằng chưa biết khi nào thì bạo hành y tế sẽ giảm.


Bạo hành trong y tế

Leave a Reply

Web truyện Viêm gan Bệnh gan mật .