Các bệnh lý về gan

Các bệnh lý về gan

Bệnh gan là bệnh thường gặp trong ngoại khoa, nhất là ở khoa ngoại tổng quát. Phần này chỉ giới thiệu một số thông tin cơ bản của các bệnh lý về gan hay gặp trong thực hành lâm sàng.


Ung thư gan nguyên phát (Ung thư biểu mô tế bào gan – HCC):

Các trường hợp HCC ở Mỹ được ghi nhận chỉ ở những bệnh nhân có xơ gan. Chúng tiến triển một cách mơ hồ với cảm giác khó chịu ở hạ sườn phải và sút cân. Marker chẩn đoán đặc hiệu là alpha-fetoprotein (AFP). CT-scan cho thấy vị trí và sự di căn. Cắt bỏ bằng phẫu thuật được chỉ định nếu điều kiện cho phép.

Ung thư di căn đến gan:

Loại ung thư này vượt trội hơn ung thư gan nguyên phát ở Mỹ với tỉ lệ 20:1. Chúng được nhận thấy bằng CT-scan khi theo dõi ung thư gan nguyên phát đã điều trị, hay các trường hợp nghi ngờ khi mà CEA tăng cao ở những người có ung thư đại tràng. Nếu tổn thương nguyên phát diễn tiến chậm và sự khi căn giới hạn ở một thùy, phẫu thuật cắt bỏ có thể được tiến hành. Việc kiểm soát ung thư có thể bao gồm cắt bỏ bằng sóng radio.

Các bệnh lý về gan

Đa tổn thương với kích thước khác nhau ở cả hai gan. Bệnh nhân có tiền sử K trực tràng.

Ung thư tuyến ở gan:

Có thể khởi phát từ biến chứng của thuốc tránh thai, là loại ung thư nguy hiểm bởi chúng có xu hướng vỡ và chảy máu ồ ạt trong ổ bụng. CT-scan khẳng định chẩn đoán, phẫu thuật cấp cứu được đề nghị.

Abscess gan sinh mủ:

Thường là biến chứng của bệnh đường mật, đặc biệt là viêm đường mật cấp. Bệnh nhân có triệu chứng sốt, tăng bạch cầu, đau vùng gan. Siêu âm hay CT khẳng định chẩn đoán. Dẫn lưu qua da được đề nghị.

Abscess gan do amip:

Ap-xe gan là một bệnh lý khá hiếm gặp, do nhiều tác nhân gây ra như vi khuẩn, nấm tuy nhiên amip vẫn là nguyên nhân chính.

Tác nhân gây bệnh trong abcess gan do amip là Entamoeba Histolitica, có 10% dân số nhiễm amip. Khi ăn uống thực phẩm bị nhiễm phân chứa bào nang amip, bào nang amip sẽ di chuyển xuống ruột non và trypsin sẽ phá hủy vỏ của chúng, thể dưỡng bào được phóng thích. Amip thường trú ngụ tại manh tràng, ở đây amip kết dính vào niêm mạc và có thể xâm nhập vào tuần hoàn cửa đến gan. Có khoảng 30% bệnh nhân mắc ap-xe gan do amip đồng thời cũng bị nhiễm amip ở đường ruột.

Xu hướng hay gặp ở nam mặc dù tỉ lệ nhiễm trùng amip ở đường ruột là như nhau ở cả hai giới, lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh thì tương tự các loại abcess khác, tuy nhiên loại abscess này có thể được điều trị với Metronidazole, thỉnh thoảng cần phải dẫn lưu. Chẩn đoán xác định bằng huyết thanh học (amip không phát triển trong mủ) nhưng do xét nghiệm mất vài tuần mới có kết quả nên điều trị theo kinh nghiệm được tiến hành khi có nghi ngờ. Nếu tình trạng cải thiện, điều trị được tiếp tục, nếu không cần tiến hành dẫn lưu. Metronidazol cho đáp ứng tốt trong 90% các trường hợp, ngoài ra các thuốc khác thuộc nhóm nitroimidazole cũng có thể được dùng để thay thế nó. Việc chọc hút hay dẫn lưu catheter được chỉ định khi kích thước ổ ap-xe lớn hơn 5cm, ap-xe gan thùy trái, lâm sàng chưa cải thiện sau 5 đến 7 ngày. Việc chọc hút được thực hiện dưới sự hướng dẫn của CT hay siêu âm.


Ca lâm sàng 1

--- ---

Một công nhân 29 tuổi nhập cư từ Mexico vào viện vì sốt, đau vùng gan khi sờ nắn. Anh ta có vàng da nhẹ, xét nghiệm có bạch cầu tăng, ALP tăng. Siêu âm vùng bụng trên bên phải thấy đường mật bình thường nhưng trong gan có khối abscess.

Nguyên nhân có thể nhất?

Điều trị?

Nguyên nhân thường là abscess do amip, rất phổ biến ở Mexico.

Điều trị: Trong số các abscess, đa số các trường hợp loại này không cần phải dẫn lưu nhưng có thể điều trị hiệu quả với Metronidazole. Huyết thanh học là tiêu chuẩn nhưng có thể phải mất 3 tuần. Bắt đầu điều trị với Metronidazole. Khi có kết quả huyết thanh có thể khẳng định chẩn đoán, đừng dại dột yêu cầu hút mủ và gửi đi cấy, sẽ không có kết quả.


Ca lâm sàng 2:

Một người đàn ông  53 tuổi khó chịu ở hạ sườn phải một cách mơ hồ, sút 6 kg. Thăm khám thấy gan to dưới sườn. Hai năm cách đây ông ta có phẫu thuật cắt nửa đại tràng phải vì ung thư. CEA trong giới hạn bình thường hay khi phẫu thuật, tuy nhiên giờ đây tăng lên 10 lần so với bình thường.

Chẩn đoán?

Điều trị?

Chẩn đoán: Ung thư gan do di căn. Cần yêu cầu CT-scan có cản quang để xác định chẩn đoán.

Điều trị: Phẫu thuật cắt bỏ được tiến hành nếu không có các khối di căn khác, tổn thương nguyên phát tiến triển chậm.


Kết luận

Các bệnh lý về gan nên được chẩn đoán chính xác trên lâm sàng. Ngay cả với nội khoa, việc khai thác bệnh sử và tiền sử đối với bệnh gan nên được quan tâm, các thông tin sẽ hữu ích cho việc chẩn đoán. Ngày nay các phương tiện chẩn đoán cận lâm sàng hiện đại như CT-Scan, siêu âm đã giúp ích rất nhiều cho các bác sĩ lâm sàng trong chẩn đoán các bệnh lý về gan, đặc biệt là đối với các ung thư gan nguyên phát hay di căn.


Các bệnh lý về gan _Y học lâm sàng

Leave a Reply