Bệnh tả do Vibrio

Bệnh tả do Vibrio

Giống Vibrio thuộc họ Vibrionaceae. Họ này bao gồm 5 giống, trong đó giống Vibrio V. cholerae gây bệnh tả cho người.

Dịch tễ học bệnh tả

–   Nguồn lây bệnh là bệnh nhân và người lành mang mầm bệnh. Bệnh nhân bắt đầu đào thải vi khuẩn theo phân từ thời kỳ ủ bệnh. Đến thời kỳ toàn phát, một số lượng lớn vi khuẩn được đào thải theo phân và chất nôn. Sau khi khỏi bệnh, vi khuẩn vẫn còn tiếp tục được đào thải theo phân trong nhiều tháng.

–   Nước giữ một vai trò đặc biệt trong quá trình truyền bệnh tả. Thức ăn được xác định là một yếu tố trung gian truyền bệnh quan trọng. Trong thức ăn ở 30°C, vi khuẩn tả có thể sống được từ 1 đến 5 ngày; nếu ở nhiệt độ 5-10°C, vi khuẩn tả có thể sống được vài tuần.

–   Mọi lứa tuổi nếu chưa có miễn dịch đầy đủ đều có thể mắc bệnh tả. Tại những khu vực có bệnh tả lưu hành thì tỷ lệ trẻ em bị mắc bệnh cao hơn người lớn.

Khả năng và cơ chế gây bệnh

Bệnh tả chỉ xuất hiện ở người do V. cholerae nhóm phụ O1 gây ra. (Hiện nay còn phát hiện thấy chủng V. cholerae thuộc nhóm huyết thanh O.139 cũng gây được dịch tả ở người).

–   Vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể bằng đường ăn uống. Khi qua dạ dày để xuống ruột non, vi khuẩn bị pH= 3 của dạ dày tiêu diệt. Vì vậy muốn qua thoát được, số lượng vi khuẩn nhiễm vào phải nhiều (1010  vi khuẩn/1 ml). Số lượng ít hơn, khoảng 102 / ml chỉ gây được bệnh trên bệnh nhân thiểu toan dịch vị, những người đã bị cắt dạ dày, những người trước đó đã dùng thuốc kháng toan.

–  Sau khi đã vượt qua được dạ dày xuống ruột non, vi khuẩn tả bám vào niêm mạc nhưng không xâm nhập sâu vào mô ruột và hầu như không gây tổn thương cấu trúc của niêm mạc ruột. Tại ruột non, vi khuẩn phát triển nhanh chóng nhờ pH thích hợp (pH = 8). Vi khuẩn tiết ra độc tố ruột LT (thermolabile toxin). LT là một protein gồm 1 tiểu phần A (Active – hoạt động) và 5 tiểu phần B (Building – gắn).

–  Cơ chế tác động của độc tố LT:

+  Độc tố ruột gắn vào niêm mạc ruột non nhờ tiểu phần B gắn vào thụ thể GM1 của niêm mạc ruột.

+  Tiểu phần A tác động làm hoạt hóa enzym adenyl cyclase dẫn đến tăng quá nhiều AMP vòng, làm cho tế bào niêm mạc ruột giảm hấp thu Na+, tăng tiết nước và Cl gây ra tiêu chảy cấp tính. Nếu không đươc điều trị tích cực bệnh nhân sẽ chết vì mất nước và mất điện giải.

Triệu chứng lâm sàng

–  Thời gian ủ bệnh 1 – 4 ngày

--- ---

–  Bệnh khởi phát đột ngột với buồn nôn, nôn, tiêu chảy dữ dội, co thắt cơ bụng.

+  Phân giống nước vo gạo, chứa chất nhày, tế bào thượng bì và số lượng lớn vi khuẩn.

+  Nước và chất điện giải mất nhanh chóng, trường hợp nặng có thể mất 20 – 30 lít nước/ngày. Nồng độ  Na+ trong phân bằng với trong huyết tương, còn K+ gấp 5 nồng độ của chúng trong huyết tương. Bệnh nhân bị rối loạn điện  giải, kiệt nước nặng, trụy tuần hoàn, vô niệu.

–   Trong trường hợp dịch tản phát hay bệnh nhẹ, bệnh cảnh lâm sàng khó phân biệt với bệnh tiêu chảy khác. Typ sinh học Eltor gây bệnh nhẹ hơn typ sinh học cổ điển.

Chẩn đoán vi sinh vật

Chẩn đoán trực tiếp

Bệnh phẩm là phân và chất nôn. Cần phải xét nghiệm ngay, nếu chưa được xét nghiệm thì phải cấy vào môi trường chuyên chở Cary -Blair.

Soi tươi

Quan sát tính di động của vi khuẩn tả dưới kính hiển vi nền đen.

Nuôi cấy phân lập   

Các môi trường thường được dùng để phân lập phẩy khuẩn tả là: pepton kiềm, thạch kiềm, TCBS.

Kỹ thuật kháng thể huỳnh quang trực tiếp (Direct Fluorescent Antibody Test – DFA)

Phương pháp này cho kết quả rất nhanh và có tính đặc hiệu cao, thường được áp dụng trong kiểm dịch ở các cửa khẩu.

Chẩn đoán huyết thanh

Trên thực tế không làm vì cho kết quả chậm.

Phòng và điều trị

Phòng bệnh

Không đặc hiệu

–  Vệ sinh ăn uống, sử dụng nước sạch, quản lý – xử lý phân, diệt ruồi.

–  Chẩn đoán sớm, cách ly bệnh nhân, xử lý phân và chất nôn của bệnh nhân. Khi có bệnh dịch tả phải thông báo ngay và kịp thời thực hiện các biện pháp bao vây dập dịch.

Đặc hiệu

–   Trước đây dùng vacxin chết, theo đường tiêm.

–   Hiện nay đã có các loại vacxin dùng theo đường uống nhằm kích thích đáp ứng miễn dịch tại ruột. Có 2 loại:

+  Vacxin sống giảm độc lực: có khả năng tạo miễn dịch bảo vệ trên 80%.

+  Vacxin chết.

–  Tại Việt Nam đang dùng vacxin bất hoạt gồm cả O1 và O139, theo đường uống. Đối tượng xử dụng là những người sống trong vùng có dịch tả lưu hành, ở mọi lứa tuổi.

Điều trị

–   Bù nước và điện giải có tầm quan trọng hàng đầu để cứu sống bệnh nhân.

–  Các thuốc kháng sinh thường dùng là: tetracyclin, chloramphenicol, bactrim. Tuy nhiên hiện nay cũng đã xuất hiện một số chủng tả có khả năng kháng thuốc


Vi khuẩn E.Coli gây bệnh

Leave a Reply